Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC, QTCL CỦA DN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Năm 500 trước Công Nguyên, số đông học giả cho rằng có thể lấy mốc khởi điểm của các nguyên lý QTCL từ cuốn “Nghệ thuật chiến tranh” của Tôn Tử ra đời giữa bối cảnh chiến tranh liên miên thời Xuân Thu Chiến Quốc ở Trung Quốc cổ đại. Thời Alexander (năm 330 trước Công Nguyên), con người đã có kỹ năng khai thác các lực lượng và tạo dựng hệ thống để thống trị toàn cục.
Lúc bấy giờ con người đã đưa ra các luận điểm cơ bản như luận điểm cho rằng có thể đè bẹp đối thủ - thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn nếu có thể dẫn dắt thể trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình. Năm 1800, chiến thuật và chiến lược được đúc kết và phát triển bởi nhà chiến lược phương Tây - Carl von Clausewitz - ứng dụng trong hoạt động chiến tranh. Từ năm 1920-1950: “Lập kế hoạch chiến lược” là nội dung nổi bật của thời kỳ này. Nhân vật tiêu biểu là Alfred Sloan của hãng General Motors (Mỹ) nhấn mạnh vào hai yếu tố sức mạnh và nhược điểm trong quá trình xây dựng các kế hoạch có tính chiến lược.
Như vậy, quá trình nhận thức thì đã bắt đầu từ lâu, có cả ngàn năm lịch sử, nhưng bản thân lĩnh vực độc lập về QTCL thì được xem là ra đời khoảng thập niên 1950. Những bộ óc tiên phong trong lĩnh vực này phải kể đến Igor Ansoff, Alfred Chandler, Peter Drucker, Philip Selznick… Selznick được coi là cha đẻ của phân tích SWOT ngày nay. Chandler đề cao vai trò của hoạt động điều phối quản trị nằm trong khuôn khổ chiến 4 z lược tổng thể, trong đó sợi dây kết nối quá trình tương tác các bộ phận chức năng chính là dòng chảy thông tin. Chandler chỉ ra rằng, chính nhu cầu phải có và triển khai chiến lược dài hạn được điều phối nghiêm cẩn đã tạo ra nhu cầu tổ chức một công ty có cấu trúc đa dạng, có hướng đi và có trọng điểm tập trung: “Cấu trúc bám theo chiến lược” là quan điểm nổi bật của Chandler.
Ansoff tiếp tục phát triển nhận thức hướng tới thị trường, và đặt ra hàng loạt thuật ngữ quan trọng sử dụng rộng rãi ngày nay như: xâm nhập thị trường, phát triển sản phẩm, phát triển thị trường, tích hợp ngang và dọc, đa dạng hóa hỗn hợp sản phẩm. Sau đó ông còn tiếp tục đưa ra một loại hình phân tích gọi là “phân tích độ chênh” để trình bày rõ khoảng cách giữa thực tế và các mục tiêu đặt ra, tiến tới cái ông gọi là “Hành động nhằm làm giảm độ chênh”. Dựa trên những nền tảng hiểu biết này, tới thập niên 1960 nhiều công ty lớn đã chủ trương cho ra đời các bộ phận chức năng riêng gọi là “quy hoạch chiến lược” nhằm kết hợp hai quá trình lớn là thiết lập và triển khai chiến lược. Vào năm 1998, Mintzberg nghiên cứu phát triển chiến lược thành 3 phạm trù lớn: Thứ nhất là phạm trù chiến lược “chuẩn tắc”; Nhóm thứ hai bao gồm 6 trường phái tập trung vào “cách thức” thực hiện QTCL (bao gồm: khởi nghiệp, có tầm nhìn, dựa vào hiểu biết, học hỏi, thích ứng, lựa theo tình huống, thương thuyết, văn hóa DN và môi trường kinh doanh); Nhóm thứ ba bao gồm chỉ một trường phái duy nhất: trường phái phép biến đổi (còn gọi là chiến lược cấu hình), đây là sự hỗn hợp của các trường phái khác được tái lập dựa trên quan điểm phân đoạn và chu kỳ sống của tổ chức.
Thông qua kinh nghiệm của các nước có thể thấy rằng mỗi DN xây dựng của mỗi quốc gia đều luôn nghiên cứu, xây dựng và áp dụng chiến lược phát triển của họ có tính chất đặc thù, phù hợp với đất nước của mình, không thể áp dụng nguyên hình mẫu của các quốc gia khác. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: 5 z Mỗi một DN trong nước hiện nay cũng đều xây dựng cho mình một chiến lược phát triển trong khoảng thời gian nhất định: một năm, năm năm hoặc dài hạn và cần phải xem xét ba vấn đề: Hiện nay chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đang muốn đi đâu? Và chúng ta sẽ đi đến đó bằng cách nào? Trả lời cho câu hỏi chúng ta sẽ đi đến đó bằng cách nào thì đó chính là chiến lược. Chiến lược bao gồm việc tạo ra, thực hiện và đánh giá các mục tiêu của DN. Chiến lược là sợi chỉ xuyên suốt quá trình này, nó hướng dẫn sự phát triển và thực hiện các quyết định, hoạt động của tổ chức.
Đến nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học viết về chiến lược phát triển của DN như: “Đánh giá và đề xuất chiến lược phát triển của Tập đoàn Hòa Phát giai đoạn 2007-2012” (Nguyễn Thị Ngọc Diệp, 2011). Đồ án tốt nghiệp thạc sỹ. Đồ án đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về chiến lược và QTCL, nêu lên thực trạng và thực thi chiến lược, đánh giá đề xuất chiến lược phát triển của Tập đoàn Hòa Phát giai đoạn 2007-2012 bằng mô hình Delta Project và Bản đồ chiến lược. “Hoàn thiện chiến lược phát triển của Tổng công ty VINACONEX giai đoạn 2011-2015 (Nguyễn Viết Hiệu, 2009).
Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ. Luận văn đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về chiến lược và QTCL của DN, khảo sát - phân tích - đánh giá thực thi chiến lược của Tổng công ty VINACONEX thời điểm năm 2009-2010, đưa ra các giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển của Tổng công ty VINACONEX giai đoạn 2011-2015 bằng mô hình Delta Project và Bản đồ chiến lược. Luận văn có tác dụng thực tiễn đối với nhiều DN có quy mô tương tự VINACONEX. “Áp dụng mô hình Delta Project để hoàn thiện Chiến lược phát triển Tổng công ty Máy Động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (VEAM)” (Hồ Mạnh Tuấn, 2009).
Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ. Luận văn đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về chiến lược và QTCL của DN, khảo sát - phân tích - đánh giá thực thi chiến lược hiện tại của VEAM, những tồn tại, nguyên nhân 6 z và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển của VEAM bằng mô hình Delta Project và Bản đồ chiến lược. Các chiến lược của mỗi DN cũng đã tập trung vào việc định hướng phát triển của mình nhưng trong thực tế còn nhiều DN vẫn còn lúng túng chưa thực thi chiến lược đề ra. Vì vậy, với khoảng trống nghiên cứu của đề tài này: phân tích, đánh giá thực trạng chiến lược phát triển của SD7, tìm ra những điểm tồn tại, nguyên nhân và đưa ra các giải pháp khắc phục những tồn tại đó, tôi hy vọng sẽ đóng góp tích cực vào việc hoàn thiện chiến lược phát triển của SD7.
Một số khái niệm cơ bản 1. Một số khái niệm cơ bản về chiến lược, QTCL 1. Khái niệm về chiến lược Chiến lược của một DN là chương trình hành động tổng quát hướng tới thực hiện những mục tiêu của DN. Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt được những mục tiêu vì đó là nhiệm vụ của nhiều chương trình hỗ trợ, các chiến lược, các chức năng khác.
Chiến lược chỉ tạo ra các khung để hướng dẫn tư duy để hành động (Phan Huy Đường, 2013, trang 263). Thuật ngữ “chiến lược” thường được dùng theo ba nghĩa phổ biến. Thứ nhất, là các chương trình hoạt động tổng quát và triển khai các nguồn lực chủ yếu để đạt được mục tiêu. Thứ hai, là các chương trình mục tiêu của tổ chức, các nguồn lực cần sử dụng để đạt được mục tiêu này, các chính sách điều hành việc thu nhập, sử dụng và bố trí các nguồn lực này.
Thứ ba, xác định các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các đường lối hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu này (Ngô Kim Thanh, 2011). Như vậy, chiến lược là tập hợp các mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu đề đạt được các mục tiêu đó. Khái niệm về QTCL 7 z QTCL là tập hợp các quyết định và các hành động làm cơ sở cho việc thiết lập và triển khai các kế hoạch được thiết kế để đạt được các mục tiêu của DN (Phan Huy Đường, 2013, trang 264). QTCL là khoa học và nghệ thuật thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng, cho phép tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra (Ngô Kim Thanh, 2011).
Tiến trình QTCL bao gồm các giai đoạn khác nhau. Trong đó, việc phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài cũng như nguồn lực và khả năng bên trong của tổ chức ở thời điểm hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng. Thông qua việc phân tích đó, các điểm mạnh và điểm yếu nội tại của DN có thể được giải quyết để tranh thủ các cơ hội và né tránh các thách thức từ môi trường bên ngoài, đồng thời cho phép DN hoạch định các mục tiêu một cách rõ ràng, phối hợp việc xây dựng và lựa chọn một số chiến lược hợp lý để đạt được mục tiêu đề ra (Phan Huy Đường, 2013). Các bước để hoạch định chiến lược Tùy theo thực tiễn hoạt động của mỗi DN sẽ có các bước lập và hoạch định chiến lược khác nhau và có năm nhiệm vụ có liên quan mật thiết với nhau như sau: Nhiệm vụ 1: Xác định tầm nhìn chiến lược.
Nhiệm vụ 2: Đặt ra mục tiêu Nhiệm vụ 3: Lập chiến lược. Nhiệm vụ 4: Thực hiện và triển khai chiến lược. Nhiệm vụ 5: Giám sát, đánh giá và chỉnh sửa nếu cần 8 z Nhiệm vụ 1 Nhiệm vụ 2 Nhiệm vụ 3 Nhiệm vụ 4 Nhiệm vụ 5 Phát triển Thảo sứ mệnh chiến lược Giám sát, và viễn Lập ra các để đạt Ứng dụng đánh giá và cảnh chiến mục tiêu được các thi hành sửa chữa sai lược của mục tiêu chiến lược sót công ty đặt ra Xem lại Xem lại Cải Cải Phục hồi các sửa đổi sửa đổi thiện/ thiện/ nội dung cũ nếu cần nếu cần thay đổi thay đổi nếu cần Hình 1. Năm nhiệm vụ phải thực hiện trong QTCL (Nguồn: Giáo trình QTCL - Đại học Help, Maylaysia) 1.
Đặc điểm, vai trò của QTCL 1. Đặc điểm chiến lược Tính toàn cục Chiến lược là sơ đồ tổng thể về sự phát triển của tổ chức, quyết định quan hệ của tổ chức với môi trường khách quan.