phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo kết cấu 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Lý luận cơ bản về xây dựng chiến lƣợc phát triển bền vững của doanh nghiệp. Phân tích và lựa chọn chiến lƣợc phát triển bền vững cho công ty TNHH Dịch vụ Kho vận ALS giai đoạn 2019 - 2025. Đề xuất một số giải pháp thực hiện chiến lƣợc phát triển bền vững cho Công ty TNHH Dịch vụ Kho vận ALS giai đoạn 2019 - 2025.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về chiến lược Thuật ngữ chiến lƣợc đƣợc xuất hiện từ các cuộc chiến tranh, nó đƣợc hiểu nhƣ là cách vận hành, tổ chức các nguồn lực, phƣơng tiện để giành chiến thắng. Thuật ngữ chiến lƣợc bắt nguồn từ thuật ngữ Hy Lạp cổ đại “Strategos” có nghĩa là tổng thể. Thuật ngữ xuất hiện đầu tiên từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa “khoa học về xây dựng và điều khiển các hoạt động quân sự”. Dần dần chiến lƣợc đƣợc sử dụng trong các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế- xã hội.
Từ thập kỷ 60, thế kỷ XX chiến lƣợc đƣợc ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “chiến lƣợc kinh doanh” ra đời. Trong tiếng việt thuật ngữ “chiến lƣợc” là sự kết hợp của từ chiến trong từ chiến đấu, có nghĩa là tranh giành, lƣợc có nghĩa là mƣu, tính. Nhƣ vậy, nguyên gốc của từ chiến lƣợc là những mƣu tính nhằm chiến đấu và quan trọng hơn là để giành chiến thắng. Năm 1962, Chandle đã định nghĩa chiến lƣợc là “việc xác định các mục tiêu, mục đích dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng chuỗi các hành động cũng nhƣ phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này” (Chandler, A.
Đến những năm 1980, Quinn đã đƣa ra định nghĩa có tính khái quát hơn “Chiến lƣợc là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thể đƣợc cố kết một cachs chặt chẽ” (Quin B. Strategy for change: Logical Incrementalism homewood, Illinois, Irwin). Chandler (1962), chiến lược bao gồm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó. Glueck (1976), chiến lược là một kế hoạch mang tính 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống nhất, toàn diện và tính phối hợp đƣợc thiết kế để đảm bảo rằng mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ đƣợc thực hiện.
Quinn (1980), chiến lược là kế hoạch phối hợp các mục tiêu chủ yếu, các chính sách và hành động của đơn vị thành một tổng thể kết dính lại với nhau. Theo quan điểm của giáo sƣ Michael E.Porter lại cho rằng: “Chiến lƣợc cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo”. Ngày nay, chiến lƣợc là vấn đề rất quan trọng đối với mỗi tổ chức, chiến lƣợc là mô hình về các mục tiêu, chủ đích và các kế hoạch đạt đƣợc mục tiêu đó.
Bất kì doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển không chỉ quan tâm đến những kế hoạch tác chiến ngắn hạn mà còn cần quan tâm đến những vấn đề dài hạn nhằm tận dụng thời cơ, giảm thiểu những tác động xấu từ môi trƣờng bên ngoài, phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu của bản thân doanh nghiệp. Những tƣ duy nhƣ vậy đƣợc gọi là tƣ duy chiến lƣợc. Chiến lƣợc cũng chính là bản kế hoạch cho tƣơng lai, trong đó mô tả mô hình hoạt động của doanh nghiệp cũng nhƣ vẽ ra viễn cảnh tốt đẹp cho doanh nghiệp. Chiến lƣợc giải quyết những vấn đề không thể dự báo, không thể biết trƣớc.
Bản chất của chiến lƣợc là những hành động đƣợc lên kế hoạch để đạt tới tầm nhìn. Nhiệm vụ của công ty là tập trung vào nhu cầu thị trƣờng phục vụ, giải quyết các vấn đề xã hội để sản xuất ra hàng hóa sản phẩm. Chiến lƣợc là những giải pháp tổng quát mang tính định hƣớng giúp công ty đạt đƣợc mục tiêu dài hạn. Chiến lƣợc đƣợc hình thành từ những nguồn lực bên trong, ảnh hƣởng từ các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp và đƣợc lựa chọn theo một tiến trình khoa học.
Theo tác giả Hoàng Đình Phi (5): đối với bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào thì "chiến lược là một tài liệu, có thể viết tay, in máy hay điện tử, trong đó những người có trách nhiệm đề ra sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi và các mục tiêu dài hạn cho một tổ chức, thông thường là trong 5 năm, cũng như xác định các nguồn lực cần huy động và các giải pháp cần thực hiện để đạt được các mục 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu đã đề ra". Trong khuôn khổ luận văn và ứng dụng thực tiễn, tác giả lựa chọn định nghĩa về chiến lƣợc cũng nhƣ các công cụ xây dựng chiến lƣợc đƣợc giảng dạy và hƣớng dẫn cho nhiều thế hệ học viên cao học theo các tài liệu giảng dạy các môn học về quản trị chiến lƣợc và phát triển bền vững (5) thuộc Chƣơng trình đào tạo thạc sĩ quản trị an ninh phi tryền thống.2 Chiến lược phát triển của tổ chức Chiến lƣợc kinh doanh Tùy theo quy mô và ngành nghề kinh doanh, một doanh nghiệp có thể có nhiều loại chiến lƣợc theo các cấp độ khác nhau nhƣ: chiến lƣợc phát triển tổng thể doanh nghiệp cho mỗi giai đoạn, thƣờng là 5 năm hay 10 năm, chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực, chiến lƣợc tài chính, chiến lƣợc công nghệ, chiến lƣợc sản xuất, chiến lƣợc marketing, chiến lƣợc bán hàng, chiến lƣợc văn hóa… Mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng và thực thi các chiến lƣợc là để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, phát triển và duy trì khả năng cạnh tranh. Một tổ chức kế cả hành chính, công lập hay đơn vị hành chính sự nghiệp có thu thì cũng cần phải có các chiến lƣợc để phát triển theo các giai đoạn làm mục tiêu phấn đấu cho tất cả các thành viên trong tổ chức. Mặc dù có nhiều những quan điểm khái niệm trong khóa luận này, thuật ngữ chiến lƣợc kinh doanh hiểu là: “Chiến lược kinh doanh là hệ thống các nỗ lực, hành động khác biệt trên cơ sở nguồn lực có thể huy động nhằm thiết lập một vị thế duy nhất có giá trị so với đối thủ cạnh tranh”.
Chiến lƣợc kinh doanh bắt đầu từ sự nỗ lực của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp trên những nguồn lực có thể huy động ở đây là nhân lực, tài chính, chất xám để tạo đặc biệt là các những ngƣời đứng đầu công ty, đƣa ra hành động khác biệt nhằm thiết lập một vị trí duy nhất có giá trị so với đối thủ. Hiện nay về mặt lý thuyết ngƣời ta chƣa có một khái niệm nào đƣợc công nhận là duy nhất đúng về chiến lƣợc phát triển. Chiến lƣợc kinh doanh luôn xây dựng, lựa chọn và thực thu dựa trên cơ sở lợi thế so sánh của doanh nghiệp, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình khi xây dựng chiến 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lƣợc, và cũng đặt doanh nghiệp vào tình thế phải xây dựng chiến lƣợc kinh doanh với những chuẩn bị chu đáo. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, chiến lƣợc kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Nó giúp cho nhà quản trị có một cái nhìn dài hạn, là cơ sở để đƣa ra những quyết định chính xác kịp thời. Đồng thời giúp doanh nghiệp tận dụng điểm mạnh sẵn có, cơ hội trong tƣơng lai để đƣơng đầu, hạn chế thách thức, khắc phục điểm yếu, giữ vững và nâng cao vị thế của doanh nghiệp. Chiến lược phát triển bền vững và khả năng cạnh tranh bền vững của một tổ chức Trong thời gian gần đây, phát triển bền vững không chỉ là mối quan tâm của các nhà chính trị, nhà hoạt động môi trƣờng mà còn trở thành mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, tổ chức. Ở cấp độ quốc tế, đa số các quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện các cam kết đã ký trong Chƣơng trình Nghị sự 21 (1) của Liên hợp quốc bằng việc cụ thể hóa các mục tiêu trong việc xây dựng và thực thi các chiến lƣợc phát triển bền vững ở tẩm quốc gia.
Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chiến lƣợc phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2010- 2020 (2). Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của phát triển bền vững, các nhà quản trị doanh nghiệp đã bắt đầu kết hợp yếu tố bền vững vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình nhƣ một phần của kế hoạch chiến lƣợc phát triển dài hạn. Trong quá trình xây dựng chiến lƣợc bền vững của doanh nghiệp, các nhà quản trị cần đƣa phát triển bền vững vào trọng tâm chiến lƣợc của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, phát triển bền vững đƣợc hiểu là việc thực thi các chiến lƣợc và hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và các đối tác tại thời điểm hiện tại mà vẫn có thể duy trì và củng cố các nguồn lực sản xuất và kinh doanh (tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, tài chính.) để đáp ứng cho nhu cầu trong tƣơng lai của doanh nghiệp (IISD, 1992).
Từ định nghĩa này, có thể nhận thấy rằng chiến lược phát triển bền vững giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp áp dụng các giải pháp phát triển bền vững vào quá trình quản trị doanh nghiệp. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp nhấn mạnh vào tầm quan trọng của hiệu quả sản xuất và/hoặc kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ một yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển cũng nhƣ sự tăng trƣờng dài hạn của doanh nghiệp. Có nhiều cách thức định nghĩa khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của sản phẩm trên thị trƣờng (Fafchamps M., 1995); là khả năng giành đƣợc và duy trì thị phần trên thị trƣờng với lợi nhuận nhất định (Randall G., 1997); là khả năng cung ứng sản phẩm của chính doanh nghiệp trên thị trƣờng mà không phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp (John Dunning, 1995).