Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre. - Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Bến Tre. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Lý luận chung về cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh trong kinh tế là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm cạnh tranh được sử dụng cho phạm vi của doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia và khu vực liên quốc gia.
Ở các cấp độ khác nhau thì mục tiêu được đặt ra khác nhau. Đối với quốc gia, mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho người dân, còn đối với doanh nghiệp thì mục tiêu chủ yếu là tồn tại và kiếm lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh quốc gia hay quốc tế. Các tác giả với các tiếp cận khác nhau đã đưa ra những khái niệm khác nhau. Theo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam 1995 “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi các quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.
Các tác giả trong cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thuộc dự án VIE/97/016 (2002) cho rằng “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt mục tiêu kinh doanh cụ thể”. Samuelson (2000) cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”. Những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, giúp các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được. Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác 2 định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và tương lai, từ đó đề ra những giải pháp có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh.
Với những điểm rút ra nêu trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp chiếm lĩnh thị trường, giành khách hàng và các điều kiện sản xuất có lợi nhất. Mục đích sau cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với các nhà sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với những người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi… 1. Đặc điểm cạnh tranh Cũng như các đơn vị khác trong kinh tế thị trường.
NHTM trong kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Mặt khác, khi so sánh với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế thì cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc điểm như: - Đối thủ cạnh tranh ganh ganh đua nhau nhưng cũng có sự hợp tác với nhau trong cùng một lĩnh vực kinh doanh. - Cạnh tranh trong kinh doanh NH luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh và tránh để xảy ra rủi ro cho hệ thống. - Cạnh tranh thông qua sự điều tiết gián tiếp và thường xuyên của NH Trung ương của mỗi quốc gia hoặc trong khu vực.
- Cạnh tranh trong kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào môi trường bên ngoài như: môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, tập quán sinh hoạt của người dân địa phương,… - Cạnh tranh trong kinh doanh NH thường xuyên chịu ảnh hưởng của thị trường tài chính quốc tế. Khái niệm lợi thế cạnh tranh Theo tài liệu của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương năm 2006 thì “Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được đo lường bằng cách so 3 sánh mức tiến bộ của tính hiệu lực và hiệu quả trong công việc sử dụng các nguồn lực, tính chủ động và khả năng triển khai các hoạt động đầu tư, khả năng cải tiến công nghệ và bộ máy tổ chức trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó”. Theo tác giả Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng và Phạm Xuân Lan (1998) thì “Lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty mà những năng lực phân biệt này được khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo giá trị cao cho khách hàng”. Như vậy, lợi thế cạnh tranh được hiểu là những cách thức làm cho doanh nghiệp nổi bậc hay khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.
Tổ chức nào có được những thế mạnh này sẽ khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh. Có hai khía cạnh thể hiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: - Chi phí: Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể đạt được. Doanh nghiệp nào có chi phí thấp hơn thì có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Chi phí thấp giúp cho doanh nghiệp có tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự hiện diện của các đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ.
- Sự khác biệt hóa: là một khía cạnh của lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay quanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp tung ra thị trường. Những khác biệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như: nét riêng về thiết kế hay danh tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ bán hàng và mạng lưới bán hàng. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Trong bài viết “Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” tác giả Đỗ Thị Minh Đức đã đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của các NHTM như sau: “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với NHTM khác”. Như vậy, đây là một yếu tố năng động, luôn 4 được đặt trong sự phát triển liên tục.
Các lợi thế so sánh (hiện có và được tạo ra) chỉ là những yếu tố tiềm năng, điều quan trọng là các lợi thế này phải được sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, đồng thời phải luôn đầu tư nhằm duy trì và tăng cường thêm năng lực một cách bền vững. Ngoài ra, cạnh tranh là một hoạt động có chủ đích, do vậy năng lực cạnh tranh thường gắn liền với kết quả hoạt động cạnh tranh, tức là mức độ đạt được các mục tiêu cạnh tranh đã đặt ra. Theo tác giả Nguyễn Thị Quy (2005) thì “Năng lực cạnh tranh của một NH là khả năng NH đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Với khái niệm này thì tác giả Nguyễn Thị Quy đã đề cập đến năng lực nội tại của một NHTM và mối quan hệ của nó với sự phát triển của ngành NH trên cơ sở tận dụng dược lợi thế của mình nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn.
Mặt khác, khái niệm trên cũng thể hiện sự linh hoạt trong chiến lược cạnh tranh của NHTM khi thích nghi và tận dụng những sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu, “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra, sử dụng và duy trì lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh, nhằm đứng vững và phát triển trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi”. Nó bao gồm các yếu tố nội tại và ngoại sinh của NH tác động đến chiến lược cạnh tranh của NH đó. Từ đó, có thể tận dụng các cơ hội trên cơ sở phát huy lợi thế của mình, đồng thời cũng khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh đến hoạt động kinh doanh của NH.
CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Cơ sở để phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM dựa trên mô hình các nhân tố môi trường kinh doanh do Michael Porter đề xuất. Các nhân tố này 5 tạo ra một môi trường mà trong đó các doanh nghiệp được thành lập và cạnh tranh lẫn nhau. Điều kiện về nhu cầu Điều kiện về yếu tố sản xuất (các yếu tố Các ngành hỗ trợ của bản thân và có liên quan doanh nghiệp) Chiến lƣợc công ty, cạnh tranh,cấu trúc ngành Hình 1. 1: Mô hình viên kim cƣơng của Michael Porter Nguồn : Chiến lược cạnh tranh.[5] Áp dụng mô hình viên kim cương của Michael Porter nêu trên cho trường hợp ngành NH, 4 nhóm nhân tố trong mô hình được xác định: Một là, điều kiện về yếu tố sản xuất: bao gồm các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của bản thân NHTM như năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị điều hành của ban lãnh đạo NH, khả năng ứng dụng công nghệ, sự đa dạng và chất lượng sản phẩm dịch vụ của NH, mạng lưới chi nhánh.
Các nhân tố này được chọn lọc phù hợp với đặc điểm của NHTM. Hai là, điều kiện về nhu cầu: dự báo sự tăng hay giảm nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ NH có tính đến ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế như tốc độ tăng dân số, tốc độ tăng thu nhập… Với quá trình mở cửa nền kinh tế, tự do hóa và hội nhập thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, sự cạnh tranh đối với ngành NH tất yếu sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt. Hiện nay cạnh tranh giữa các NHTM không chỉ dừng ở các loại hình sản phẩm 6 dịch vụ truyền thống (huy động vốn và cho vay) mà còn cạnh tranh ở thị trường sản phẩm dịch vụ mới.