Chương 1. Khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Dột may Nam Định. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dột may tại tỉnh Nam Định. Một sổ giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may tại tỉnh Nam Định.
K H UNG LÝ TH UYẾT VỀ NĂNG L ự c CẠNH TRANH CỦA CÁC DO ANH NGH IỆP DỆT M AY NAM ĐỊNH 1. C ơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh 7. C ác kh ải niệm c ơ bản về năng lự c cạnh tranh 1. Khái niệm về Cạnh tranh Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thuật ngữ “cạnh tranh ” được đề cập nhiều trong các nghicn cửu, vì vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về “cạnh tranh”.
Trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh quốc g ia ” của M.Porter thì: cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung binh mà doanh nghicp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hoả lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm di. Cạnh tranh kinh té ở cà 3 cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm “kiến tạo” nên năng lực cạnh tranh của nên kinh tế. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của OECD (2000) định nghĩa về cạnh tranh kết họp cả các doanh nghiệp, ngành và quốc gia: “Cạnh tranh là khà năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Trong giáo trình Quản trị chiến lược, Đại học kinh tế quốc dân do PGS.TS Ngô Kim Thanh chủ biên dã dịnh nghĩa: “Cạnh tranh, hiểu theo cấp dộ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của doanh nghiệp.” Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn dối thủ đc họ có thể lựa chọn mình mà không dến với dối thủ cạnh tranh. Do đứng ở các góc dộ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm về cạnh tranh có sự khác nhau.Portcr, c ạ n h tr a n h là giành lấy thị phẩn, tối da hoá lợi nhuận; 4 theo OECD cạnh tranh nhàm tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong diều kiện cạnh tranh quốc tế, còn theo giáo trình Quản trị chiến lược, ĐH Kinh tế quốc dân thì cợnh tranh là giành giật khách hàng, thị phần và nguồn lực của đối thù. Song trong các khái niệm đó đcu có những nội hàm chủ yêu, tương đông hoặc giông nhau, nhưng tóm lại theo Luận văn có thể hiểu: “Canh tranh là quá trình kinh té mà ở đỏ các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp và kỹ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế cùa mình, thông thường là nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách háng cũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất.
Mục đích cuôỉ cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. K hái niệm về N ăng lực cạnh tranh Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” có nguồn gốc la-tinh là Competerc, tức là cùng gặp nhau tại một điểm, chỉ ra khả năng đương đàu với tình trạng cạnh tranh và ganh đua với người khác. Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta thường sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh, do đó cùng có nhiêu quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Theo OECD, “năng lực cạnh tranh” dược định nghĩa là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sờ sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong diều kiện cạnh tranh quốc tế.
Phạm Công Đoàn với bài viết “Giải pháp xây (lựng năng lực cạnh tranh bền vững cho Hapro giai đoạn hiện nay” dã tiếp cận năng lực cạnh tranh trên kliía cạnh bền vững của doanh nghiệp thương mại nhà nước. Tác giả cho rằng “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược tạo lặp nhờ việc nhận diện, khai thác và tạo mới thực lực, lợi thế bên trong và bên ngoài doanh nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ dáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng so với dối thủ cạnh tranh trên thị trường.” Còn theo giáo trinh Quản trị chiến lược, Đại học Kinh tế quốc dân thì “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so 5 với đối thủ cạnh tranh trong việc thể hiện tốt nhất các đỏi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.” Như vậy, có thể thấy năng lực cạnh tranh hiện nay được hiểu theo nhiều nghĩa song chưa có sự thống nhất cao vì nói đcn năng lực cạnh tranh lả cằn xem xét điều kiện, bối cảnh phát triển đất nước trong từng điều kiện cụ thề, đồng thời năng lực cạnh tranh phải thể hiện khả năng “đua tranh”, “tranh giành” giừa các doanh nghiệp và phải thể hiện bàng phương hay cách thức cạnh tranh phù hợp. Trong nghiên cứu của PGS. Phạm Công Doàn, tác giả chỉ xem xét năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp thương mại nhà nước, còn OECD dề cập tới năng lực cạnh tranh trên khía cạnh tổng quát của các chủ thể trong diều kiện cạnh tranh quốc tc.
Tuy nhiên, trcn cơ sở các nghiên cứu trcn, Luận văn thừa kc, thống nhất các quan điểm và có thể rút ra một kết luận chung là: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, nâng cao lợi thế cạnh tranh trong sàn xuất tiêu thụ sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường, thu hút sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhàm đạt tới lợi ích kinh tế cao (tối da hoá lợi nhuận) và bền vừng. C ác cấp n ăn g lự c cạnh tranh Do chù thể cạnh tranh có thể khác nhau nên năng lực cạnh tranh được chia thành các cấp dộ khác nhau. Hiộn nay năng lực cạnh tranh được chia thành 4 cấp độ: - Năng lực cạnh tranh quốc gia. - Năng lực cạnh tranh ngành.
- Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. - Năng lực cạnh tranh sản phầm. N ăng lực cạnh tranh quốc gia Theo Diễn đàn kinh té thế giới WEF, năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trimg kinh tế khác. Năng lực cạnh tranh quốc gia dược hiểu là viộc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo việc phân bố cỏ hiệu quả cao các nguồn lực, đổ đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao và bền vừng.Porter có 4 giai đoạn riêng biệt của phát triển cạnh tranh: cạnh tranh dựa vào yéu tố sản xuất, cạnh tranh dựa vào dầu tư, cạnh tranh dựa vào đổi mới, cạnh ưanh dựa vào của cải.
Ba giai đoạn đàu đòi hỗi liên tục nâng cấp lợi thế cạnh tranh quốc gia và thường di kem với thịnh vượng kinh tế tăng dần. Giai đoạn thứ tư là trì trệ và cuối cùng là suy giảm. Theo WEF, năng lực cạnh tranh dược xác định bởi tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tạo nên mức năng suất của một quốc gia. Mức năng suất lại quyết dịnh mức độ thịnh vượng mà nền kinh tế có thể dạt dược.
Nói cách khác, nền kinh tế nào càng có năng lực cạnh tranh cao, càng có khả năng tạo ra mức thu nhập cao cho dân chúng. Mức năng suất của một quốc gia quyết định khả năng duy trì mức thu nhập của quốc gia dó, dồng thời cũng là một yếu tố chù đạo xác định mức sinh lời của đầu tư - một yếu tố chính tạo nen tiềm năng tăng trưởng cùa một nền kinh tế. Đẻ đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia, WEF chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI (Global Competitiveness Index). Đây là một chỉ số đánh giá toàn diện dược xây dựng và công bố trong báo cáo cạnh tranh toàn cầu thường nicn, nhằm đánh giá và xếp hạng các quốc gia trên thế giới về nền tảng kinh tế vi mô và vĩ mô tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo đó chỉ số GC1 được xây dựng trcn cơ sở đo lường các yếu tố tác động lớn tới năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia với 12 yếu tố trụ cột: thề chế; cơ sở hạ tầng; môi trường kinh té vĩ mô; y tế và giáo dục cơ bản; giáo dục và đào tạo dại học; hiệu quả thị trường hàng hoá; hiệu quả thị trường lao động; sự phát triền của thị trường tài chính; mức độ sẵn sàng về công nghệ; quy mô thị trường; dộ tinh vi trong kinh doanh; sáng tạo. 12 trụ cột của năng lực cạnh tranh quốc gia có mối liên hệ mật thiết với nhau và bẻ sung cho nhau, x ế p hạng của mỗi yếu tố dược xác dịnh thông qua hàng loạt những chỉ số thành phần rất chi tiết và cụ thể. Thông qua chỉ số GC1, bức tranh về cạnh tranh toàn cầu phản ánh một cách khá toàn diện năng lực của các nền kinh té, ngày càng trở thành một đảnh giá dáng tin cậy và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu. N ăn g lực cạnh tranh ngành Cũng như năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành.
Tuy nhiên có thể hiểu “Năng lực cạnh tranh ngành là năng lực duy trì dược lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài nước.” Sự cạnh tranh giữa các ngành được hiểu hiện thông qua sự cạnh tranh giửa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với những ngành khác nằhm đạt dược lợi nhuận cao và tìm kiểm nơi đầu tư có lợi (những nơi có tỷ suất lợi nhuận cao). Các doanh nghiệp thường bị hấp dẫn bởi những ngành có lợi nhuận cao tạo nên một xu hướng chuyền dịch từ ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao. Sự điều chỉnh tự nhiên này theo tiếng gọi của lợi nhuận sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên sự phân phối hợp lý giừa các ngành sản xuất.