phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài làm gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH ĐAN VIỆT CHƢƠNG 3: MỘT S BIỆN PHÁP N NG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH ĐAN VIỆT 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ Ý UẬN VỀ NĂNG ỰC CẠNH TR NH CỦ DO NH NGHIỆP 1. KH I NIỆM V V I TR CỦ CẠNH TR NH ĐỐI VỚI DO NH NGHIỆP 1. Khái ni m về cạnh tranh v năng ực cạnh tranh của doanh nghi p a) Khái niệm cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trƣờng xuất hiện.
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh: Các nhà kinh tế học thuộc trƣờng phái cổ điển cho rằng cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra trong mỗi thành viên trong thị trƣờng một dƣ địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình. Cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học là chỉ quá trình tranh đấu tiến hành không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trƣờng nhằm thực hiện lợi ích kinh tế và mục tiêu đã định của bản thân. Động lực nội tại của cạnh tranh là lợi ích kinh tế của tự thân chủ kinh tế, biểu hiện cụ thể trong quá trình cạnh tranh là giữ hoặc mở rộng mức chiếm hữu thị trƣờng, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận.
Áp lực bên ngoài của cạnh tranh là đọ sức kịch liệt giữa các đối thủ cạnh tranh, kẻ bại tất sẽ bị đào thải. Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992): Cạnh tranh đƣợc xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình. 10 Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất. Cạnh tranh buộc những ngƣời sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ thuật, tổ chức quản lý để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng hàng hoá, thay đổi mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; cải tiến nghiệp vụ thƣơng mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán và tăng doanh lợi.
Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển hoá giá trị hàng hoá thành giá trị thị trƣờng và giá cả sản xuất, Ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn với quan hệ cung cầu của hàng hoá. Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các ngƣời bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những ngƣời mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung (Chu Văn Cấp, Trần Bình Trọng, 2002). Nhƣ vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trƣờng.
b) Khái niệm năng lực cạnh tranh (NLCT) của Doanh nghiệp 11 Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế. Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nƣớc giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trƣờng tiêu thụ. Một doanh nghiệp đƣợc coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trƣờng và ngày càng phát triển. (Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trƣờng một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu đƣợc lợi ích ngày càng cao.
Theo nhà quản trị chiến lƣợc Micheal Porter: Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trƣờng tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế (Michael E. Theo Humbert Lesca, năng lực cạnh tranh (NLCT) của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trƣờng cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
12 Hoặc NLCT của doanh nghiệp còn đƣợc định nghĩa là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất. Những định nghĩa trên cho thấy, NLCT của doanh nghiệp trƣớc hết phải đƣợc tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đƣợc coi là có NLCT khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố nhƣ: giá trị sử dụng và chất lƣợng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội nhƣ giữ đƣợc tín nhiệm (chữ tín) trên thị trƣờng, việc tuyên truyền, hƣớng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hƣởng quan trọng hiện nay các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức nhƣ bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng, trên cơ sở đó tăng năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để đánh giá NLCT của doanh nghiệp thì không chỉ đơn thuần đánh giá các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà điều quan trọng là phải đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trƣờng. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập đƣợc lợi thế so sánh với đối tác của mình.
Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng nhƣ lôi kéo đƣợc khách hàng của đối thủ cạnh tranh. 13 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hƣởng bởi yếu tố môi trƣờng kinh doanh và sự biến động khôn lƣờng của nó, cùng một sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoạt động kinh doanh trong một phạm vi rộng lớn hơn các doanh nghiệp chỉ kinh doanh trong nƣớc, chịu ảnh hƣởng của rất nhiều quy định của các thị trƣờng khác nhau. Nhờ có đƣợc khả năng vƣợt trội so với các doanh nghiệp khác trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình phục vụ nhu cầu tiêu thụ tại thị trƣờng nƣớc ngoài hoặc cho khách hàng nƣớc ngoài tại nƣớc mình (xuất khẩu tại chỗ) mà doanh nghiệp xuấu khẩu dành đƣợc thị phần tiêu thụ ngày một lớn, tăng thu nguồn thu ngoại tệ.
Vai trò của cạnh tranh Nhƣ chúng ta đã biết, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trƣng của nền kinh tế hàng hoá, đảm bảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sở hữu, trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế nói riêng, các doanh nghiệp luôn đƣa ra các biện pháp tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thị trƣờng và sau đó tăng khả năng cạnh tranh của mình. Để đạt đƣợc mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều ƣu thế cho sản phẩm của mình và từ đó có thể đạt đƣợc mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Khi sản xuất kinh doanh một hàng hoá nào đó, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu đƣợc, đƣợc xác định nhƣ sau: Pr = P.Q Trong đó: + Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp 14 + P: Giá bán hàng hoá. + Q: Lƣợng hàng hoá bán đƣợc + C: Chi phí một đơn vị hàng hoá.
Nhƣ vậy để đạt đƣợc lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách nhƣ: tăng giá bán P, tăng lƣợng bán Q, giảm chi phí C và để làm đƣợc những việc này doanh nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trƣờng bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, các phƣơng thức sản xuất tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lƣợng tốt, mẫu mã đẹp. và tốn ít chi phí nhất. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có những chiến lƣợc Marketing thích hợp nhằm quảng bá sản phẩm, hàng hoá của mình tới khách hàng giúp họ có thể nắm bắt đƣợc sự có mặt của những hàng hoá đó và những đặc tính, tính chất, giá trị và những dịch vụ kèm theo của chúng. Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các doanh nghiệp mới có sự đầu tƣ nhằm nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá ngày càng đƣợc đa dạng, phong phú và chất lƣợng đƣợc tốt hơn.
Đó chính là tầm quan trọng của cạnh tranh đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lƣợng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn và đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của ngƣời tiêu dùng trong xã hội.