phần mở đầu và kết luận thì luận văn nghiên cứu của tôi gồm có 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3. Phân tích dự báo môi trƣờng kinh doanh sản phẩm Rau quả sạch bằng công nghệ thủy canh tại Công ty cổ phần IMC Đông Dƣơng.
Đề xuất chiến lƣợc kinh doanh sản phẩm rau quả sạch bằng công nghệ thủy canh và các giải pháp thực hiện chiến lƣợc kinh doanh của Công ty cổ phần IMC Đông Dƣơng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Trong kinh tế thị trƣờng, khi cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải đặc biệt quan tâm đầu tƣ cho công tác quản lý. Quản lý doanh nghiệp bao gồm quản lý chiến lƣợc và quản lý điều hành. Trong đó, quản lý chiến lƣợc gồm có hoạch định chiến lƣợc, thẩm định – quyết định lựa chọn chiến lƣợc và chỉ đạo thực hiện chiến lƣợc.
Trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển sang kinh tế thị trƣờng, việc kinh doanh phải chú trọng cạnh tranh quản lý chiến lƣợc, trong đó hoạch định chiến lƣợc có vai trò đặc biệt quan trọng. Hoạch định chiến lƣợc kinh doanh là quá trình nghiên cứu luận chứng, chiến lƣợc kinh doanh là kết quả của quá trình đó. Michael Porter cho rằng: “Chiến lƣợc là nghệ thuật tạo ra lợi thế cạnh tranh”. Alain Thretar lại cho rằng: “Chiến lƣợc kinh doanh là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để ứng phó với cạnh tranh nhằm giành thắng lợi”.
Theo Genral Aileret: “Chiến lƣợc là kết quả hoạch định mục tiêu, phƣơng cách và phƣơng tiện tổng quát”. Theo Alfred Chandler: “Chiến lƣợc hoạt động của doanh nghiệp là kết quả hoạch định mục tiêu tổng quát, hƣớng – phƣơng cách hoạt động và các nguồn lực chủ yếu sẽ huy động sử dụng”. Theo GS,TS Đỗ Văn Phức (Đỗ Văn Phức, 2013): “chiến lƣợc hoạt động của doanh nghiệp là kết quả xác định mục tiêu chiến lƣợc, các cặp sản phẩm - khách hàng chiến lƣợc và các nguồn lực chiến lƣợc nhằm giành lợi thế cạnh tranh”.TS Ngô Kim Thanh (Nguồn: PGS. Ngô Kim Thanh, 2009): “chiến lƣợc còn đƣợc hiểu là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng nhƣ kế hoạch chủ yếu để đạt đƣợc các mục tiêu đó, nó cho thấy doanh nghiệp đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gì, và doanh nghiệp đang hoặc sẽ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh nào”.
7 Nói đến chiến lƣợc hoạt động của doanh nghiệp là nói đến bản chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Bản chiến lƣợc có tên sát với nội dung và nội dung cụ thể, khái quát. “Bản chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có nội dung bao gồm: Mục tiêu chiến lược + các cặp sản phẩm – khách hàng chiến lược + các nguồn lực chiến lược”. Bản chiến lƣợc chỉ đƣợc sử dụng khi nó đảm bảo chất lƣợng.
Chiến lƣợc kinh doanh của một doanh nghiệp là một chƣơng trình hành động tổng quát hƣớng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lƣợc là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng nhƣ các kế hoạch chủ yếu để đạt đƣợc các mục tiêu đó, nó cho thấy rõ công ty đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gì, thuộc vào lĩnh vực kinh doanh nào. Mục đích của một chiến lƣợc là nhằm tìm kiếm những cơ hội, hay nói cách khác là nhằm gia tăng cơ hội và vƣơn lên tìm kiếm vị thế cạnh tranh. Vai trò của chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có sự cạnh tranh gay gắt, một DN SXKD muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải xây dựng và thực hiện chiến lƣợc kinh doanh hợp lý.
Chiến lƣợc kinh doanh sẽ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động SXKD của DN vì những lý do sau: - Trƣớc hết, chiến lƣợc kinh doanh giúp cho DN thấy rõ mục đích, hƣớng đi của mình trong tƣơng lai và làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của DN. - Chiến lƣợc kinh doanh giúp cho DN có thể phân tích, đánh giá và dự báo đƣợc những cơ hội, thời cơ và những nguy cơ có thể xảy ra; nhận thấy đƣợc những điểm mạnh, điểm yếu của DN mình. Từ đó, giúp cho DN đƣa ra các quyết định phù hợp, đúng đắn với những biến đổi của thị trƣờng nhằm đảm bảo hoạt động SXKD phát triển, hiệu quả. - Chiến lƣợc kinh doanh còn giúp cho các nhà quản trị DN phát huy những thế mạnh, cân đối sử dụng hiệu quả các nguồn lực và phân bổ chúng một cách hợp lý.
Đồng thời giúp cho DN tăng cƣờng vị thế trên thƣơng trƣờng để đảm bảo DN phát triển liên tục và bền vững. 8 - Cuối cùng, chiến lƣợc kinh doanh tạo ra cho DN các căn cứ vững chắc cho những hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tƣ phát triển đào tạo bồi dƣỡng nguồn nhân lực, hoạt động mở rộng thị trƣờng và phát triển sản phẩm.3 Các loại chiến lược kinh doanh Nhìn chung, các chiến lƣợc thƣờng đƣợc hình thành ở một trong ba cấp độ: công ty, đơn vị kinh doanh và bộ phận chức năng trong đó, cấp độ đơn vị kinh doanh là phân đoạn chủ yếu diễn ra sự cạnh tranh trong ngành. Với mục đích đối kháng lại năm lực lƣợng thị trƣờng, bao gồm sức mạnh ngƣời cung ứng, nguy cơ thay thế, các rào cản gia nhập, sức mạnh khách hàng và mức độ cạnh tranh, Michael Porter đã xác định ba chiến lƣợc chung có thể áp dụng ở cấp đơn vị kinh doanh nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh. Chiến lƣợc chung phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp phát huy tối đa các điểm mạnh của mình, đồng thời tự bảo vệ để chống lại các ảnh hƣởng xấu của năm lực lƣợng thị trƣờng nói trên.
Nếu yếu tố quyết định đầu tiên đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là sức hấp dẫn của lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động, thì yếu tố quan trọng thứ hai là vị thế của doanh nghiệp trong lĩnh vực đó. Ngay cả khi hoạt động trong một ngành có khả năng sinh lợi thấp hơn mức trung bình, nhƣng các doanh nghiệp có vị thế tối ƣu thì vẫn có thể tạo ra mức lợi nhuận rất cao. Mỗi công ty tự xác định vị trí cho mình trong lĩnh vực đang hoạt động bằng cách tận dụng các ƣu thế sẵn có của mình. Michael Porter cho rằng các ƣu thế của một doanh nghiệp bất kỳ sẽ luôn nằm ở một trong hai khía cạnh: lợi thế chi phí và sự cá biệt hóa sản phẩm.
Bằng cách áp dụng những ƣu thế này, các công ty sẽ theo đuổi ba chiến lƣợc chung: dẫn đầu về chi phí, khác biệt hóa sản phẩm và tập trung. Các chiến lƣợc này đƣợc áp dụng ở cấp đơn vị kinh doanh. Chúng đƣợc gọi là các chiến lƣợc chung vì chúng không phụ thuộc vào bất cứ một doanh nghiệp hay một ngành nào. - Chiến lược dẫn đầu về chi phí: Chiến lƣợc này hƣớng tới mục tiêu trở thành nhà sản xuất có chi phí thấp trong ngành với tiêu chuẩn chất lƣợng nhất định.
Khi đó, công ty hoặc sẽ bán sản phẩm với giá trung bình của toàn ngành để thu 9 đƣợc lợi nhuận cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh, hoặc sẽ bán với giá thấp hơn giá trung bình để giành thêm thị phần. Trƣờng hợp cuộc “chiến tranh giá cả” diễn ra, công ty vẫn có thể duy trì một mức lãi nhất định, trong khi các đối thủ cạnh tranh buộc phải chịu thua lỗ. Ngay cả khi không có sự xung đột hay mâu thuẫn về giá cả, ngành kinh tế này phát triển, mở rộng và giá giảm xuống, thì những công ty có khả năng giữ mức chi phí sản xuất thấp hơn vẫn có thể thu lợi nhuận trong thời gian dài hơn. Chiến lƣợc dẫn đầu về chi phí này thƣờng đƣợc áp dụng cho những thị trƣờng rộng lớn.
Doanh nghiệp có thể dựa vào một số phƣơng thức để chiếm ƣu thế về chi phí: cải tiến hiệu quả của quá trình kinh doanh, tìm cơ hội tiếp cận với nguồn nguyên liệu lớn có giá bán thấp, thực hiện việc chuyển công đoạn kinh doanh ra nƣớc ngoài một cách tối ƣu và ra các quyết định sát nhập theo chiều dọc, hoặc giản lƣợc một số chi phí không thật cần thiết. Nếu các đối thủ cạnh tranh không có khả năng cắt giảm chi phí đến mức tƣơng tự, thì doanh nghiệp có thể duy trì ƣu thế cạnh tranh của mình dựa trên sự dẫn đầu về chi phí. Những doanh nghiệp thành công trong việc áp dụng chiến lƣợc dẫn đầu về chi phí thƣờng có những đặc điểm sau: + Khả năng tiếp cận vốn tốt để đầu tƣ vào thiết bị sản xuất. Đây cũng chính là rào cản mà nhiều công ty khác không thể vƣợt qua.
+ Năng lực thiết kế sản phẩm để tăng hiệu quả sản xuất, ví dụ tạo ra thêm một chi tiết nhỏ nào đó để rút ngắn quá trình lắp ráp. + Có trình độ cao trong sản xuất. + Có các kênh phân phối hiệu quả. Bất kỳ chiến lƣợc chung nào cũng có những mạo hiểm ẩn chứa bên trong, và chiến lƣợc chi phí thấp cũng không phải là một ngoại lệ.
Rủi ro có thể xảy ra khi đối thủ cạnh tranh cũng có khả năng hạ thấp chi phí sản xuất. Thậm chí, với sự trợ giúp của công nghệ hiện đại, đối thủ cạnh tranh có thể có những bứt phá bất ngờ trong sản xuất, xóa đi lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đang dẫn đầu về chi phí. Ngoài ra, có một số công ty lại theo đuổi chiến lƣợc tập trung vào các thị trƣờng hẹp, nơi 10 không khó khăn để đạt đƣợc mức chi phí còn thấp hơn trong mảng thị trƣờng truyền thống của họ, từ đó sẽ cùng tạo thành một nhóm kiểm soát mảng thị phần lớn hơn gấp nhiều lần. - Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm: Đây là chiến lƣợc phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp sao cho sản phẩm hoặc dịch vụ này có đƣợc những đặc tính độc đáo và duy nhất, đƣợc khách hàng coi trọng và đánh giá cao hơn so với sản phẩm của các hãng cạnh tranh.
Giá trị gia tăng nhờ tính độc đáo của sản phẩm cho phép doanh nghiệp đặt ra mức giá cao hơn mà không sợ bị ngƣời mua tẩy chay.