CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 1.1 Khái niệm chiến lược và xây dựng chiến lược: Khái niệm chiến lược đã ra đời từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại và có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự. Nhiều nhà lý luận quân sự như Alexander, Clausewitez, Napolen, Tôn Tử. đã viết về chiến lược dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, đến những năm 1950, 1960, khi khoa học quản trị phát triển, chiến lược và sự hiểu biết về cạnh tranh mới được nghiên cứu như là một bộ phận của khoa học quản trị.
Có nhiều định nghĩa về chiến lược, tùy thuộc vào quan điểm của tác giả. Ví dụ Chandler (1962), một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược, đã định nghĩa: chiến lược như là“việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” Hoặc như Quinn (1980) định nghĩa“ Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”1 Michael Porter (1996) cho rằng“Chiến lược là việc tạo ra vị thế độc đáo và có giá trị, bằng việc thiết lập một tập hợp các hoạt động khác biệt.”2 Trong điều kiện môi trường có nhiều thay đổi, Johnson và Scholes (1999) định nghĩa “chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường cạnh tranh thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên liên quan.”3 Như vậy, mặt dù được phát biểu trong các điều kiện môi trường kinh doanh khác nhau, dưới các quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm của các lý thuyết gia về chiến lược đều thống nhất ở điểm chiến lược là việc xác định các mục tiêu dài hạn, chuẩn bị 1 Lê Thế Giới, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Hữu Hải (2007), Quản Trị Chiến Lược, Nxb Thống Kê [3] 2 Michael Porter (1996), What Is Strategy, Harvard Business Review (Nov-Dec 1996), pp 68 3 Lê Thế Giới & ctg (2007), sách đã dẫn, trang 10 [3] (LUAN.2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2015 2 nguồn lực và chuỗi hành động để hoàn thành mục tiêu đó.2 Qui trình xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Thông thường chiến lược là kết quả của một quá trình hoạch định hợp lý. Cho đến nay các nhà khoa học chiến lược và khoa học quản trị đã đề xuất nhiều mô hình hoạch định chiến lược (ví dụ - mô hình BOS). Trong phần này, để đơn giản chúng ta xem xét một trong nhiều khuôn khổ hoạch định chiến lược với 5 bước chính: (1) lựa chọn sứ mệnh và mục tiêu chủ yếu của công ty; (2) phân tích môi trường bên ngoài để nhận dạng các cơ hội và đe dọa; (3) phân tích môi trường bên trong để nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức; (4) lựa chọn các chiến lược trên cơ sở tìm kiếm các nguồn lực, khả năng và năng lực lõi và phát triển nó để tận dụng cơ hội, giảm các nguy cơ từ môi trường bên ngoài; (5) thực thi chiến lược.
Nhiệm vụ phân tích môi trường bên ngoài và hoàn cảnh nội bộ của công ty từ đó lựa chọn chiến lược, được xem là quá trình xây dựng chiến lược. Dưới đây là một mô hình hoạch định chiến lược cơ bản Sứ mệnh - Mục tiêu Phân tích bên ngoài Phân tích bên trong Lựa chọn và xây (nguồn lực, khả năng và (các cơ hội và đe dọa) dựng các chiến lược năng lực cốt lõi) Chiến lược chức năng Chiến lược kinh doanh Chiến lược cấp công ty Hình 1.1 Mô hình hoạch định chiến lược cơ bản 1.1 Xác định viễn cảnh, sứ mệnh và mục tiêu: Mô hình hoạch định chiến lược trên cho thấy rõ ràng việc xác định sứ mệnh, mục tiêu là bước khởi đầu, đồng thời là nền tảng cho việc hoạch định chiến lược của công ty. Điều này là do môi trường kinh doanh, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, luôn biến động và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, cũng như những cơ hội không thể dự đoán chính xác.2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2015 3 Để tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp cần phải có khả năng thích ứng, điều đó bao hàm việc doanh nghiệp phải có một hạt nhân được bảo toàn. Hạt nhân đó là động lực của doanh nghiệp, được tinh lọc từ doanh nghiệp để trở thành viễn cảnh, sứ mệnh của doanh nghiệp.
Theo Warren Bennis “chúng ta sẽ cần có những lãnh đạo có khả năng biết những gì thật sự quan trọng cho tổ chức về lâu dài. Họ có một giấc mơ, một sứ mệnh, một ý đồ chiến lược – bạn muốn gọi là gì cũng được”1 Viễn cảnh, sứ mệnh công ty có thể được viết thành một bản tuyên bố chính thức, hoặc không cần phải có bản tuyên bố như vậy, song tất cả các tổ chức cần có một viễn cảnh như vậy để kết nối các bên hữu quan, làm chuẩn mực cho các hành xử, để tuyên bố điều quan trọng của công ty là gì? Tại sao mọi ngươi liên kết lại trong công ty? Mục đích của tuyên bố viễn cảnh, sứ mệnh là thiết lập các nguyên tắc hướng dẫn cho các quyết định chiến lược.1 Viễn cảnh Viễn cảnh thể hiện các mục đích, mong muốn cao nhất và khái quát nhất của tổ chức. Viễn cảnh mô tả khát vọng của tổ chức về những gì mà nó muốn đạt tới. Như vậy rõ ràng viễn cảnh cực kỳ quan trọng vì nó là lý do tồn tại của tổ chức, là nguồn động viên mọi nổ lực của tổ chức để đạt được lý tưởng.
Ví dụ trong ngành dịch vụ ăn uống, McDonald’s thịnh vượng nhờ theo đuổi viễn cảnh của mình về những gì mà ngành dịch vụ ăn uống cần phải cung cấp cho khách hàng: người dẫn đầu về giá cả phải chăng cho những món ăn chất lượng cao tới mọi người, mọi nơi. Hoặc như David Packard từng giải thích trước các nhân viên HP rằng: tôi muốn giải thích tại sao một công ty tồn tại ở vị trí hàng đầu. Nói cách khác tại sao chúng ta ở đây? Tôi nghĩ nhiều người giả định một cách sai lầm rằng công ty tồn tại đơn giản là để kiếm tiền. Tất nhiên đó là một kết quả quan trọng của sự tồn tại công ty, song chúng ta phải đi sâu hơn và tìm ra lý do thực sự cho sự tồn tại của mình.
Theo James Collins và Jerry Porras2 cấu trúc của viễn cảnh bao gồm hai bộ phận cơ bản là tư tưởng cốt lõi và hình dung tương lai 1 Rowan Gibson biên tập (2006), Tư duy lại tương lai, nxb Trẻ, trang 249 2 James C. Collin and Jerry I.2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: mô hình của viễn cảnh công ty theo Collin và Porras 1. Tư tưởng cốt lõi (core ideology): phản ánh điều mà tổ chức bảo vệ hay ủng hộ, lý do để tổ chức tồn tại. Tư tưởng cốt lõi là cái bất biến của viễn cảnh.
Tư tưởng cốt lõi bao gồm giá trị cốt lõi và mục đích cốt lõi: Giá trị cốt lõi (core values): là những giá trị, những nguyên tắc trọng yếu lâu dài với những thành viên của tổ chức, mang tính nội tại mà bên ngoài không thể làm thay đổi được. Thông thường các giá trị cốt lõi không phải bắt nguồn từ yêu cầu thị trường mà từ niềm tin mãnh liệt của người lãnh đạo, từ bên trong của tổ chức. Porrastrên, thực tế mỗi công ty thường có từ 3 đến 5 giá trị cốt lõi1. Nó thực sự là những giá trị nền tảng, sâu sắc đến mức khó thay đổi.
Các giá trị côt lõi phải là những giá trị đứng vững trước sự biến động của thời gian. Sau khi phát thảo một danh sách các giá trị cốt lõi phải đặt câu hỏi sàng lọc cho mỗi giá trị: nếu bối cảnh thay đổi và bất lợi, liệu chúng ta có giữ giá trị này nữa hay không? Nếu chúng ta không thể trả lời là có, thì đó không phải là giá trị cốt lõi. Ví dụ một công ty công nghệ cao nghi ngờ không biết có nên đặt chất lượng vào danh sách các giá trị cốt lõi hay không. Câu hỏi được đặt ra là “giả sử trong 10 năm nữa, chất lượng không phải là dấu hiệu phân biệt trong thị trường của chúng ta nữa, mà điều quan trọng nhất là công suất và tốc độ.
Như vậy chất lượng có phải là giá trị cốt lõi không?”Nếu câu trả lời là “không”thì chất lượng vẫn ở trong chiến lược của công ty. Các chương trình cải thiện chất lượng vẫn được duy trì như là một cơ chế của sự tiến bộ. Tuy nhiên chất lượng 1 James C. Collin và Jerry I.
Porras (1996), tài liệu đã dẫn, trang 3.2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2015 5 không ở trong danh sách các giá trị cốt lõi. Những người tham gia xây dựng các giá trị cốt lõi cần phải trả lời một số câu hỏi: các giá trị cốt lõi gì đưa bạn đến với công việc với tư cách cá nhân? (điều này rất nền tảng, bạn sẽ phải giữ gìn chúng bất kể có được tưởng thưởng hay không) Nếu bạn thức giấc vào sáng mai với khoản tiền về hưu đủ cho quãng đời còn lại bạn có tiếp tục sống với các giá trị cốt lõi này không? Mục đích cốt lõi (core purpose): là lí do cơ bản của sự tồn tại của tổ chức, là động lực và mục tiêu, tạo ra mức độ gắn bó của mọi người với hoạt động của tổ chức. Không nên nhầm lẫn mục đích (purpose), cái bền vững cả 100 năm sau, với các mục tiêu (goals) và các chiến lược kinh doanh (business stratergies), cái thay đổi nhiều lần trong 100 năm. Trong khi chúng ta có thể đạt được mục tiêu, hoàn thành được chiến lược nhưng không thể hoàn thành mục đích.
Nó là cái chúng ta mãi mãi theo đuổi nhưng không bao giờ đạt được. Mục đích không tự thay đổi nhưng nó là cảm hứng của sự thay đổi. Trong việc xác định mục đích cần phải tránh sai lầm là mô tả một cách đơn giản các tuyến sản phẩm hay các phân đoạn khách hàng hiện tại. Nếu Walt Disney quan niệm mục đích của công ty là phim hoạt hình (cartoons) chứ không phải làm cho con người hạnh phúc thì chúng ta không thể có Disneyland, Epcot Center … “Five Why” là một phương pháp hữu hiệu để thiết lập mục đích.