CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH: 1.1 Định nghĩa: Khái niệm về “chiến lược” đã xuất hiện từ khá lâu, nó có ý nghĩa là “khoa học về hoạch định và điều khiển các hoạt động”. Tuy nhiên, trước kia nó thường được gắn liền với lĩnh vực quân sự. Khi trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển, chiến lược bắt đầu được vận dụng trong kinh doanh. Có nhiều định nghĩa về chiến lược trong kinh doanh: - Theo Alfred Chandler, Đại học Harvard: chiến lược bao hàm việc xác định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, chọn lựa tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.
- Theo Alain Charles Martinet: chiến lược của doanh nghiệp là nhằm phác họa những quỹ đạo phát triển đủ vững chắc và lâu dài, xung quanh những quỹ đạo đó có thể sắp đặt những quyết định và những hành động chính xác của doanh nghiệp. David1: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm: sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, hình thức sở hữu, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý, liên doanh…” Qua nghiên cứu các định nghĩa về chiến lược, có thể nhận thấy những nội dung cốt lõi của chiến lược là việc xác định mục tiêu cơ bản dài hạn, đề xuất phương hướng, tiến trình hành động và phân bổ nguồn lực để thực hiện quyết định nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp: Chiến lược kinh doanh có một tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động sản xuất kinh doanh đối với mọi doanh nghiệp. Chiến lược giúp doanh nghiệp thấy rõ 1 Fred R.
David 2006, Khái luận về quản trị chiến lược, bản dịch, NXB Thống Kê LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 mục đích và hướng đi của mình. Chiến lược cho phép doanh nghiệp năng động hơn trong dự báo những biến động của môi trường. Từ đó doanh nghiệp có thể kiểm soát được hoạt động của mình.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chiến lược làm tăng sức cạnh tranh của các đơn vị, bảo đảm ưu thế vững mạnh của doanh nghiệp.3 Các cấp độ chiến lược: Quản trị chiến lược có thể xảy ra ở nhiều tầm mức khác nhau trong doanh nghiệp. Thông thường có ba cấp độ chiến lược cơ bản như sau: - Chiến lược cấp công ty: nhằm xác định các hoạt động kinh doanh mà trong đó công ty sẽ cạnh tranh và phân phối các nguồn lực giữa các hoạt động kinh doanh đó.
- Chiến lược cấp kinh doanh: nhằm xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh của doanh nghiệp sẽ cố gắng hoàn thành mục tiêu của nó để đóng góp vào hoàn thành mục tiêu công ty. Nếu công ty hoạt động đơn ngành thì chiến lược cấp đơn vị kinh doanh có thể được coi là chiến lược cấp công ty. - Chiến lược cấp chức năng: tập trung vào việc bố trí của chiến lược công ty và tập trung vào các lĩnh vực tác nghiệp, những lĩnh vực kinh doanh.2 PHÂN LOẠI CHIẾN LƯỢC KINH DOANH: 1.1 Nhóm chiến lược tăng trưởng tập trung: Đây là nhóm chiến lược đòi hỏi sự tập trung nỗ lực để cải thiện vị thế cạnh tranh của công ty với những sản phẩm hiện có: - Chiến lược thâm nhập thị trường: là chiến lược làm tăng thị phần cho các sản phẩm hiện có tại các thị trường hiện hữu bằng những nỗ lực đẩy mạnh hoạt động marketing. - Chiến lược phát triển thị trường: là chiến lược đưa những sản phẩm hiện có vào những thị trường mới mà vẫn đảm bảo việc quản lý chất lượng, phục vụ khách hàng.
- Chiến lược phát triển sản phẩm: là chiến lược cải tiến sản phẩm hiện có hoặc phát triển sản phẩm mới trong thị trường hiện tại. Tuy vậy chi phí nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 và phát triển thị trường cao.2 Nhóm chiến lược hội nhập: - Chiến lược hội nhập về phía sau: là chiến lược tìm kiếm quyền sở hữu hoặc tăng quyền kiểm soát đối với các nhà cung cấp của công ty. - Chiến lược hội nhập về phía trước: là chiến lược tìm kiếm quyền sở hữu hoặc tăng quyền kiểm soát đối với các nhà phân phối và bán lẻ. - Chiến lược hội nhập theo hàng ngang: là chiến lược tìm kiếm quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các đối thủ cạnh tranh (bao gồm sự hợp nhất, mua lại hoặc chiếm lĩnh quyền kiểm soát) nhằm tăng sự trao đổi các nguồn tài nguyên và năng lực.3 Nhóm chiến lược đa dạng hóa: Là việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh để không bị phụ thuộc vào một ngành duy nhất.
Chiến lược đa dạng hóa bao gồm: - Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm: là chiến lược phát triển những sản phẩm mới nhưng có liên hệ với sản phẩm hiện có. - Chiến lược đa dạng hóa hàng ngang: là chiến lược phát triển những sản phẩm mới (nhưng không có liên quan tới sản phẩm hiện nay về mặt kỹ thuật) trong thị trường hiện tại. - Chiến lược đa dạng hóa kết hợp: là chiến lược phát triển những sản phẩm mới (với kỹ thuật hoặc công nghệ khác với sản phẩm hiện có) trong thị trường mới. Đây là chiến lược lâu dài, không thực hiện nhằm mục đích cải thiện tình trạng suy thoái có tính chu kỳ và thời vụ của ngành kinh doanh hiện tại.4 Nhóm chiến lược suy giảm: Áp dụng trong thời kỳ kinh tế suy thoái, doanh nghiệp không tìm thấy cơ hội hay hướng phát triển dài hạn trong một thời gian, khi doanh nghiệp nhìn ra những cơ hội khác hấp dẫn hơn cơ hội đang theo đuổi.
Những chiến lược suy giảm là: - Chiến lược thu hẹp hoạt động: thực hiện một hoặc nhiều phương thức như ngừng các dây chuyền sản xuất hoặc các hoạt động kinh doanh không có lợi, đóng cửa các nhà máy lỗi thời, sa thải bớt nhân viên, giảm chi phí quảng cáo, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nghiên cứu – phát triển nhằm cắt giảm chi phí. Tùy vào mức độ suy giảm mà việc thu hẹp hoạt động có hai hình thức: chỉnh đốn đơn giản hoặc rút bớt vốn. - Chiến lược thu hoạch: tức là bán đi một chi nhánh hay một phần công ty, tìm cách tối đa hóa lưu lượng tiền mặt trong một thời gian ngắn bất kể hậu quả lâu dài. - Chiến lược thanh lý: bán tất cả tài sản.5 Nhóm chiến lược khác: - Chiến lược hợp nhất: hai công ty hợp lại thành một công ty mới, mang một tên mới, có cơ cấu tổ chức mới và thực hiện hoạt động khác.
- Chiến lược thôn tính: mua một doanh nghiệp khác và đưa nó vào những hoạt động hiện có như một chi nhánh hay ngành được điều hành - Chiến lược liên doanh: hai hay nhiều công ty hình thành một công ty độc lập vì những mục đích hợp tác, thực hiện những mục tiêu mà một công ty đơn lẻ khó thực hiện. - Chiến lược tổng hợp: một doanh nghiệp có thể theo đuổi hai hay nhiều chiến lược cùng lúc.3 QUY TRÌNH VÀ CÔNG CỤ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH: Xây dựng chiến lược là giai đoạn đầu của quản trị chiến lược. Hình thành chiến lược là quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh, thực hiện điều tra, nghiên cứu các mặt mạnh, yếu bên trong doanh nghiệp, cơ hội và nguy cơ đe dọa của môi trường bên ngoài, đề ra các mục tiêu dài hạn, xây dựng và lựa chọn các chiến lược để thực hiện các mục tiêu. Một trong những mô hình quản trị chiến lược toàn diện được chấp nhận rộng rãi là mô hình quản trị chiến lược toàn diện của Fred R.
David: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nghiên cứu Xây dựng Xác môi trường các chiến lập bên ngoài, lược. mục xác định các tiêu ngắn cơ hội và hạn. Phân Thực Đo Nhiệm phối hiện lường vụ, Xem xét các điều đánh mục tiêu lại nguồn chỉnh giá hiện tại. mục tiêu tài chiến kết nguyên lược quả.
Đánh giá môi trường nội Lựa chọn Đề bộ, nhận biết các chiến ra điểm mạnh, lược. các chính điểm yếu. Nhiệm vụ,mục tiêu hiện tại. Hoạch định Triển khai Đánh giá chiến lược chiến lược chiến lược Hình 1.1: Mô hình quản trị chiến lược toàn diện Nguồn: Chiến lược & Chính sách kinh doanh [2] 1.1 Xác định chức năng nhiệm vụ, mục tiêu: Chức năng nhiệm vụ: Theo King và Cleland, nội dung chức năng nhiệm vụ là phải xác định rõ hiện tình của doanh nghiệp và mục tiêu doanh nghiệp muốn trở thành như thế nào trong tương lai.
Chức năng nhiệm vụ giúp phân biệt doanh nghiệp với mọi tổ chức khác và là khuôn khổ để đánh giá các hoạt động hiện thời cũng như trong tương lai. Mục tiêu kinh doanh: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Mục tiêu dài hạn là các kết quả mong muốn được đề ra cho một khoảng thời gian tương đối dài. Mục tiêu dài hạn thường được ấn định theo 7 lĩnh vực chủ đề như sau: mức lợi nhuận, năng suất, vị thế cạnh tranh, phát triển việc làm, quan hệ giữa công nhân viên, vị trí dẫn đầu về công nghệ, trách nhiệm trước công luận. Mục tiêu ngắn hạn phải hết sức cụ thể và phải nêu ra được các kết quả tiêu đích một cách chi tiết.2 Phân tích môi trường: Môi trường là những yếu tố, lực lượng, thể chế tồn tại tác động, ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Môi trường của doanh nghiệp bao gồm : môi trường vĩ mô, môi trường vi mô, môi trường nội bộ.1 Phân tích môi trường bên ngoài: a. Môi trường vĩ mô: Các ảnh hưởng của môi trường vĩ mô gồm các yếu tố: kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên và công nghệ.Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp cho doanh nghiệp biết được mình đang đối diện với những gì. - Yếu tố kinh tế: Đây là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố của môi trường vĩ mô. Nó ảnh hưởng trực tiếp đối với sức thu hút tiềm năng của các chiến lược khác nhau.
Các yếu tố kinh tế bao gồm: giai đoạn trong chu kỳ kinh tế, nguồn cung cấp tiền, xu hướng GDP, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, chính sách tài chính và tiền tệ, mức thất nghiệp, cán cân thanh toán. - Yếu tố chính trị và luật pháp: Các yếu tố này là sự ổn định của thể chế chính trị, sự thay đổi hiến pháp, các chính sách của nhà nước có ảnh hưởng tới ngành mà doanh nghiệp theo đuổi.