MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, của công nghệ thông tin và việc ứng dụng các tiến bộ này vào lĩnh vực đời sống, kinh doanh đã làm cho thế giới bị thu nhỏ lại ví như “cái ao làng”. Sự phát triển rộng khắp của các ngành nghề kinh doanh cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt đã làm cho rất nhiều doanh nghiệp vừa mới thành lập xong hoặc đã rất thành công, lớn mạnh mà bỗng chốc cũng bị thua lỗ nặng nề, phá sản hàng loạt.
Nguyên nhân của các vấn đề đó là gì? Thực tế đã chứng minh rằng hầu hết các doanh nghiệp bị phá sản là do làm ăn manh mún, có tầm nhìn hạn chế, khống có chiến lược kinh doanh cụ thể hoặc chiến lược kinh doanh của họ đã lỗi thời, không đúng xu hướng thời đại mà không kịp điều chỉnh. Một doanh nghiệp hoạt động mà không có chiến lược ví như một người đi trên đường mà không xác định mình đi đâu, về đâu, cứ mặc cho đám đông (thị trường và đối thủ) đẩy theo hướng nào thì dịch chuyển theo hướng đấy. Một nhà lãnh đạo có bản lĩnh sẽ không chịu phó mặc tương lai của doanh nghiệp như thế. Muốn vậy, người lãnh đạo phải chủ động vạch ra một hướng đi cho mình và thậm trí cố gắng tác động để dẫn dắt cả thị trường đi theo hướng này.
Trong bất kỳ một cuộc đối đầu nào, đối thủ nào áp đặt được lối chơi của mình lên đối phương, sẽ có nhiều cơ hội chiến thắng hơn. Như vậy chiến lược kinh doanh rõ ràng là một yêu cầu bắt buộc đối với những doanh nghiệp có tham vọng dẫn đầu và những doanh nghiệp không có tham vọng dẫn đầu vẫn cần có chiến lược kinh doanh nếu không muốn bị những người khác trong ngành chèn ép và cuối cùng bị loại khỏi cuộc chơi. 1 z Trong thực tế, có những doanh nghiệp tuy không có chiến lược nhưng vẫn có thể phát triển. Đó là các doanh nghiệp có thể phát triển nhờ vào một điều kiện thị trường đặc thù, một hoặc nhiều lợi thế mà các doanh nghiệp khác không có (doanh nghiệp nhà nước) hoặc doanh nghiệp hoàn toàn có thể phát triển trong giai đoạn đầu, khi chưa có nhiều đối thủ, nhờ khả năng phát hiện và nắm bắt cơ hội thị trường mà không cần phải có một chiến lược.
Tuy nhiên đó là trong ngắn hạn, còn về lâu dài, khi doanh nghiệp phát triển hơn về quy mô, khả năng kiểm soát các vấn đề sẽ khó khăn hơn thì mới thấy hết được giá trị của việc có chiến lược kinh doanh. Việt Nam là một đất nước vừa mới thoát khỏi hai cuộc chiến tranh khốc liệt, mọi nguồn lực đều bị tàn phá nặng nề, đặc biệt hơn là nguồn nhân lực, với việc con người Việt Nam sống quá lâu trong cơ chế tập trung bao cấp nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy, nhận thức trong việc làm ăn kinh tế, quan hệ buôn bán với nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu và thiếu rất nhiều: vốn, nhân lực, thông tin, cung cách quản lý, công nghệ, kinh nghiệm…, các nhà quản lý doanh nghiệp hầu hết không được đào tạo bài bản, thiếu kiến thức quản trị và kinh nghiệm kinh doanh nên trong quá trình mở cửa, gia nhập WTO thì họ còn rất nhiều bỡ ngỡ, lạ lẫm; cơ hội nhiều nhưng rủi ro, thách thức lại quá lớn. Để tránh những rủi ro gặp phải và tận dụng tốt cơ hội đem lại, các doanh nghiệp Việt Nam phải xác định cho mình một hướng đi đúng đắn, lựa chọn cách thức để có thể cạnh tranh được với các đối thủ.
Để làm được điều đó, trước hết các doanh nghiệp phải xây dựng một chiến lược kinh doanh cụ thể, có tầm nhìn tốt, có kế hoạch và giải pháp hỗ trợ cho chiến lược đem lại thành công bền vững cho doanh nghiệp mình. Đứng trước thực trạng trên, tôi thấy rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng chiến lược kinh doanh, nghiêm túc thực hiện các chiến lược đã đặt ra. 2 z Trước đây đã có một số đề tài nghiên cứu lĩnh vực chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đó là Luận văn về “chiến lược kinh doanh cho bộ phận gạo của công ty cổ phần Du Lịch An Giang” hay luận văn về “Chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần đầu tư xây dựng Long An IDICO”.
Tuy nhiên việc xây dựng chiến lược kinh doanh cho một doanh nghiệp vẫn là vấn đề mới và nó phải linh hoạt, vận dụng cho từng giai đoạn, từng thời kỳ. Do đó tôi lựa chọn đề tài “Chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương” nhằm có cái nhìn thực tế về quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp cũng như hiểu thêm kiến thức về quản trị chiến lược kinh doanh. Công ty tôi lựa chọn có đặc thù là ngành nghề kinh doanh thuộc lĩnh vực vận tải và kho bãi nhưng lại liên quan chặt chẽ đến các hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Hải Dương và các tỉnh lân cận. Đến thời điểm hiện tại công ty chưa có chiến lược kinh doanh rõ ràng.
Qua các số liệu thu thập được, bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, kết hợp với một số mô hình chiến lược kinh doanh của các chuyên gia kinh tế thế giới để xác định những giá trị cốt lõi của công ty, qua đó đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp này, đồng thời với kiến thức đã học xây dựng, đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm giúp công ty Cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương có thêm lựa chọn trong việc áp dụng xây dựng chiến lược kinh doanh của mình trong giai đoạn 2015-2020. Câu hỏi nghiên cứu. - Xây dựng chiến lược kinh doanh có vai trò như thế nào đối với hoạt động của công ty? - Căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty là gì? - Chiến lược kinh doanh đến năm 2020 của công ty là gì? 3 z 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.1 Mục đích nghiên cứu: Đề xuất chiến lược kinh doanh của công ty đến năm 2020 và các giải pháp để triển khai thực thi chiến lược.
Nhiệm vụ nghiên cứu: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh. - Phân tích các căn cứ để xây dựng chiến kinh doanh của công ty. - Đề xuất các chiến lược kinh doanh và giải pháp để thực thi chiến lược của công ty đến năm 2020. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng: Xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty giai đoạn 2015 - 2020. Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: nghiên cứu xây dựng chiến lược kinh doanh tại công ty cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương. - Về thời gian: phân tích thực trạng trong 5 năm gần đây và xây dựng chiến lược đến năm 2020. Phƣơng pháp nghiên cứu: để triển thực hiện các nội dung, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thu thập số liệu: luận văn sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp - Phương phân tích số liệu: luận văn sử dụng các phương pháp: thống kê, so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp.
- Luận văn sử dụng ma trận SWOT làm công cụ phân tích môi trường kinh doanh của công để từ đó đề xuất các chiến kinh doanh cho công ty. Những đóng góp của luận văn - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh - Phân tích các căn cứ để xây dựng chiến kinh doanh của công ty 4 z - Đề xuất các chiến lược kinh doanh và giải pháp để thực thi chiến lược của công ty đến năm 2020. Kết cấu của luận văn: Ngoài lời nói đầu và kết luận, kiến nghị, nội dung chính của Luận văn gồm: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp.
Phân tích các tiền đề để xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty Cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương (HDL) Chƣơng 3: Đề xuất chiến lược kinh doanh cho công ty Cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương (HDL) Xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Trần Anh Tài đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành Luận văn. Cảm ơn Ban giám đốc Công ty cổ phần giao nhận kho vận Hải Dương đã giúp đỡ cung cấp thông tin để học viên hoàn thành luận văn. 5 z CHƢƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm chiến lƣợc kinh doanh.
Một số quan điểm về chiến lược: Thuật ngữ “chiến lược” có nguồn gốc từ trong lĩnh vực quân sự và bắt nguồn từ nước Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này ra đời và phát triển gắn liên với các cuộc chinh phạt của các đế quốc và nó được coi như một nghệ thuật để dành phần thắng trong cuộc chiến. Theo từ điển di sản văn hóa của Mỹ thì chiến lược như là một “khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân sự, được ứng dụng để lập tổng thể và tiến hành những chiến dịch có quy mô lớn”. Theo từ điển Larouse: “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng”.
Trải qua các giai đoạn phát triển trong lịch sử, khái niệm chiến lược có những thay đổi nhất định và chưa đạt được đến sự thống nhất, vì vậy đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về chiến lược khác nhau. Theo Micheal Porter: “Chiến lược là việc nghiên cứu tìm ra một vị thế cạnh tranh phù hợp trong một ngành công nghiệp, một phạm vi hoạt động chính mà ở đó diễn ra các hoạt động cạnh tranh. Theo Alfred Chandler, giáo sư trường Đại học Harvard: “Chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, những chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện được các mục tiêu đó”. Theo Jame Quinn, trường Đại học Darmouth: “Chiến lược là mẫu hình hay kế hoạch của một tổ chức để phối hợp những mục tiêu chủ đạo, các chính sách và thứ tự hành động trong một tổng thể thống nhất”.Gluek: “Chiến lược là một kế hoạch thống nhất, toàn diện, và phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng những mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp được thực hiện thành công”.
Như vậy, ta thấy thuật ngữ “chiến lược” hiện nay thường được dùng theo 3 nghĩa phổ biến: Một là, có thể hiểu chiến lược là các chương trình hoạt động tổng quát và triển khai các nguồn lực chủ yếu để đạt được mục tiêu.