Chương 1:Tổng quan và cơ sở lý luận về chiến lƣợc kinh doanh cho doanh nghiệp. Chương 2:Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3:Phân tích các căn cứ để hình thành chiến lƣợc kinh doanh củaCông ty TNHH Nhà nƣớc một thành viên Cơ khí Hà Nội. Chương 4: Định hƣớng chiến lƣợc kinh doanh cho Công ty TNHH Nhà nƣớc một thành viên Cơ khí Hà Nội. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan và cơ sở lý luận về chiến lƣợc kinh doanh: 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu: Trong các nghiên cứu về chiến lƣợc thì không thể không nhắc đến Michael.Porter, đặc biệt là qua tác phẩm “ chiến lược cạnh tranh”, có đề cập đến những chiến lƣợc tổng quát giúp cho các doanh nghiệp có định hƣớng, lựa chọn hƣớng đi đúng đắn ,hợp lý.Bên cạnh đó ,tác phẩm giúp cho nhà lãnh đạo có thể đánh giá tình huống chiến lƣợc và phát triển chiến lƣợc một cách nhanh hơn và rõ ràng hơn. Đề tài “ hoàn thiện công tác hoạch định chiến lược kinh doanh tại công ty bánh kẹo Hải Châu” (Bùi Thế Phúc,2004).Tác giả đã đánh giá các hoạt động phân tích các nguồn nhân lực bên trong của công ty bao gồm các nguồn lực nhƣ nguồn nhân lực,nguồn tài chính,trang thiết bị, máy móc công nghệ, mặt bằng sản xuất,bộ máy quản lý, từ đó đƣa ra các điểm mạnh, điểm yếu của công ty trong giai đoạn 2000-2005, và phân tích môi trƣờng bên ngoài bằng 2 phƣơng pháp phân tích là phƣơng pháp khảo sát thực tế và phƣơng pháp dự báo môi trƣờng. Qua đó tác giả xây dựng các phƣơng án chiến lƣợc bằng cách sử dụng mô hình SWOT ,sử dụng mô hình cặp sản phẩm – thị trƣờng của công ty so sánh với các đối thủ cạnh tranh lớn; để từ đó giúp cho công ty bánh kẹo Hải Châu theo đuổi 3 mục tiêu chính : Nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng lợi nhuận và tăng thị phần. Đề tài “Xây dựng chiến lược cho Công ty Liên doanh thiết bị Viễn thông”( Nguyễn Thị Phƣơng Thảo, 2011) với nhiều đề xuất, kiến nghị là cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty.
Thời điểm năm 2010, nhu cầu thị trƣờng về thiết bị đa truy nhập (vừa băng rộng vừa băng hẹp) đã đến ngƣỡng bão hòa thì cần thiết phải có những chiến lƣợc mới cho phù hợp với nhu cầu mới của thị trƣờng. Đề tài này giúp cho Ban lãnh đạo Công ty trong việc hoạch định chiến lƣợc kinh doanh cho Công ty, trong đó đặc biệt là củng cố và nâng cao hình ảnh thƣơng hiệu Công ty 5 qua việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm và đa dạng hóa loại hình dịch vụ trƣớc, trong và sau bán hàng, từ đó đem lại hiệu quả kinh doanh đáng kể cho công ty. Phạm Ngọc Tuấn, Trƣờng Đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh,báo cáo này bắt đầu bằng việc tƣ duy lại ngành chế tạo theo hƣớng hiện đại hóa và hội nhập với thế giới để cùng nhìn nhận ngành này đang nghiên cứu và sản xuất những gì, tiếp theo là tìm hiểu về các xu hƣớng chế tạo, năng lực cạnh tranh và chiến lƣợc chế tạo của một số nƣớc điển hình trên thế giới, đồng thời xác định nhu cầu của ngành kinh tế Việt Nam đang cần gì ở ngành chế tạo, từ đó có thể dự kiến một số định hƣớng chủ yếu của ngành cơ khí Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu trong nƣớc và hội nhập quốc tế. Một số kiến nghị về chiến lƣợc và giải pháp để ngành cơ khí chế tạo phát triển thành công và bền vững cũng đƣợc đề xuất.
“Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.Ngày 09/6/2014, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 879/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lƣợc phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 và Quyết định số 880/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Chiến lƣợc phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 nhằm huy động hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong nƣớc và từ bên ngoài để phát triển, tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hƣớng hiện đại; Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp có kỹ năng, có kỷ luật, có năng lực sáng tạo; Ƣu tiên phát triển và chuyển giao công nghệ đối với các ngành, các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh và công nghệ hiện đại, tiên tiến ở một số lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản, điện tử, viễn thông, năng lƣợng mới và tái tạo, cơ khí chế tạo và hóa dƣợc; Điều chỉnh phân bố không gian công nghiệp hợp lý nhằm phát huy sức mạnh liên kết giữa các ngành, vùng, địa phƣơng để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. 6 Quy hoạch đề ra mục tiêu, định hƣớng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Quy hoạch tập trung vào 10 ngành công nghiệp chủ yếu nhƣ: ngành cơ khí - luyện kim; ngành hóa chất; ngành điện tử, công nghệ thông tin; ngành dệt may-da giày; ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống; ngành sản xuất vật liệu xây dựng; ngành khai thác và chế biến khoáng sản; ngành điện; ngành than; ngành dầu khí.
Điểm mới của Quy hoạch giai đoạn này định hƣớng phát triển công nghiệp hỗ trợ tập trung vào 3 ngành gồm cơ khí - luyện kim; điện tử - tin học, dệt may - da giày. Trong đó xác định xây dựng các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hƣng Yên, Hải Phòng, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dƣơng, Tây Ninh và Đà Nẵng.2 Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh: 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh: a. Khái niệm về chiến lược: Khái niệm về chiến lƣợc đã xuất hiện từ lâu và có nhiều quan điểm khác nhau. Nhƣng nhìn chung chiến lƣợc đƣợc xem xét theo hai cách : truyền thống và hiện đại.
Thuật ngữ chiến lƣợc (Strategy) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ “stratos” (quân đội, đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển). Theo cách tiếp cận truyền thống, chiến lƣợc là việc xác định những mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện chƣơng trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt đƣợc các mục tiêu đã xác định. Cũng nhƣ có thể hiểu chiến lƣợc là một phƣơng thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hƣớng tƣơng lai nhằm đạt đƣợc và duy trì sự phát triển.Có nhiều học giả đề cập đến chiến lƣợc, trong đó Alfred Chandler, trƣờng Đại học Havard cho rằng: Chiến lƣợc là việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các cách thức,phƣơng thức hoạt động,phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó. Doanh nghiệp đƣợc miêu tả dƣới dạng lựa chọn những mục đích cho mình,xác định phƣơng hƣớng hoạt động để hàn thành tốt nhất các mục đích đã xác định cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết.
Với cách tiếp cận này có ƣu điểm giúp doanh nghiệp hình dung những công việc cần làm để hoạch định chiến 7 lƣợc,và cũng cho doanh nghiệp thấy đƣợc tầm quan trọng của chiến lƣợc với tƣ cách là kế hoạch dài hạn.Tuy nhiên, nhƣợc điểm của cách tiếp cận này là doanh nghiệp có thể lúng túng, bị động trƣớc sự biến động đa dạng và phức tạp của môi trƣờng kinh doanh hiện đại. Quan điểm hiện đại về chiến lƣợc cho rằng: Chiến lƣợc có thể rộng lớn hơn những gì mà doanh nghiệp dự định hoặc đặt kế hoạch thực hiện. Theo Henry Mintzberg của trƣờng đại học Mc Gill, ông cho rằng chiến lƣợc là một mô thức bao gồm một loạt các quyết định và chƣơng trình hành động. Mô thức đó là sản phẩm kết hợp giữa chiến lƣợc có chủ định và thực tế tiến hành ngoài dự kiến ban đầu của nhà hoạch định chiến lƣợc gọi là chiến lƣợc đột biến.David, chiến lƣợc là những phƣơng tiện để đạt tới những mục tiêu dài hạn.
Theo Raymond Alain Thietart cho rằng : Chiến lƣợc là tổng thể các quyết định, các hành động liên quan tới việc lựa chọn các phƣơng tiện và phân bổ nguồn lực nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định. Chiến lược kinh doanh: Chiến lƣợc kinh doanh (CLKD) là phƣơng thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hƣớng cho tƣơng lai trung và dài hạn nhằm đạt đƣợc thành công trong kinh doanh. Hầu hết các doanh nghiệp lớn đã và đang thành công trên thế giới đều xây dựng và thực hiện rất tốt công tác quản trị chiến lƣợc của doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc những mục tiêu to lớn đề ra. Vậy, chiến lƣợc kinh doanh là gì? Và tại sao các nhà quản trị cần quan tâm đến chiến lƣợc kinh doanh nhƣ một nhiệm vụ hàng đầu trƣớc khi tiến hành triển khai các hoạt động kinh doanh của mình.
Theo Michael Porter: Chiến lƣợc kinh doanh là nghệ thuật tạo lập các lợi thế cạnh tranh. Nhƣ vậy chiến lƣợc kinh doanh là để đƣơng đầu với cạnh tranh,là sự kết hợp giữa những mục tiêu cần đạt tới và các phƣơng tiện doanh nghiệp cần tìm để đạt đƣợc mục tiêu đó.Doanh nghiệp đƣa ra mục tiêu cần đạt đƣợc và tìm giải pháp 8 để đạt đƣợc mục tiêu đó. Theo quan điểm này thì CLKD đƣợc coi là một nghệ thuật trong quản trị kinh doanh. Mối quan hệ giữa chiến lược và chiến lược kinh doanh Ngày nay, thuật ngữ chiến lƣợc đƣợ sử dụng rộng rãi trong kinh doanh.Phải chăng những nhà quản lý đã thực sự đánh giá đƣợc đúng vai trò to lớn của nó trong công tác quản trị của công ty nhằm đạt đƣợc những mục tiêu công ty đã đề ra.
Nhƣ vậy, điểm đầu tiên của chiến lƣợc kinh doanh là có liên quan đến mục tiêu của công ty. Đó chính là điều mà các nhà quản trị thực sự quan tâm. Có điều những chiến lƣợc kinh doanh khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, thời kỳ kinh doanh của từng công ty. Tuy nhiên việc xác định, xây dựng và quyết định chiến lƣợc kinh doanh hƣớng mục tiêu là chƣa đủ mà nó đòi hỏi mỗi chiến lƣợc cần đƣa ra những hành động hƣớng mục tiêu cụ thể.
Điểm thứ hai là chiến lƣợc kinh doanh không phải là những hành động riêng lẻ, đơn giản.