Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG CHIẾN LƯỢC DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Khái quát chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo dục phổ thông môn vật lý mới (2018) 1. Khái quát chung GDPT nước ta đang thực hiện bước chuyển từ CT GD định hướng ND DH sang GD định hướng NL của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS làm được cái gì qua việc học.
Để đảm bảo được điều đó, thì phải thực hiện thành công việc chuyển từ PPDH nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành NL và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả GD từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá NL vận dụng kiến thức GQVĐ, chú trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình DH để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động DH và GD. CT GDPT mới (2018) là CT bảo đảm được định hướng PT phẩm chất và NL người học thông qua ND GD với những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để GQVĐ trong học tập và đời sống. Định hướng PT phẩm chất và NL cho HS, chính là nhằm thực hiện mục tiêu chuẩn bị cho con người khả năng giải quyết các tình huống của cuộc sống. Như vậy có thể coi điểm mới trong CT GD phổ thông tổng thể chính là sự nhấn mạnh triết lí GD định hướng cuộc sống thông qua GD định hướng PT NL cho HS.
CT GD phổ thông bao gồm CT tổng thể (khung CT), các CT môn học và hoạt động GD, xây dựng CT GD phổ thông dựa trên những tiến bộ của thời đại về khoa học – công nghệ và xã hội; đặc điểm của con người, văn hóa Việt Nam các giá trị truyền thống của dân tộc và các giá trị chung của nhân loại; thành tựu nghiên cứu về khoa học GD và kinh nghiệm xây dựng CT theo mô hình PT phẩm chất, NL của GD Việt Nam và của các nước có nền GD PT. Cùng với các môn học về khoa học tự nhiên khác, CT GDPT môn VL giúp người học củng cố vững chắc các phẩm chất, kỹ năng phổ thông cốt lõi, hoàn thiện dần các phẩm chất, NL đã được hình thành trong giai đoạn GD cơ bản, tạo điều kiện 8 để người học bước đầu nhận biết đúng NL, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học. Trên cơ sở ND nền tảng đã trang bị cho người học ở giai đoạn GD cơ bản, CT môn VL THPT lựa chọn PT những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến các vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật và công nghệ. Những điểm mới của CT GD phổ thông tổng thể (2018) Để thực hiện mục tiêu đổi mới, CT GDPT mới (2018) vừa kế thừa và PT những ưu điểm của CT GDPT hiện hành, vừa khắc phục những hạn chế, bất cập của CT này.
Qua phân tích, tìm hiểu, chúng tôi cho rằng những điểm cần khắc phục cũng chính là những khác biệt chủ yếu của CT mới so với CT hiện hành, cụ thể như sau: - Thứ nhất, mục tiêu chung của CT GDPT mới có điểm kế thừa mục tiêu chung của CT GDPT hiện hành, thể hiện ở định hướng tiếp tục mục tiêu GDPT con người toàn diện “đức, trí, thể, mỹ” hài hòa về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên nếu như mục tiêu của CT GDPT hiện hành chưa chú trọng yêu cầu PT NL và PT tiềm năng riêng của mỗi HS thì mục tiêu của CT GDPT hiện hành mới nhấn mạnh yêu cầu PT NL, chú ý phát huy tiềm năng vốn có của mỗi HS, đồng thời cụ thể hóa mục tiêu GD thành hệ thống phẩm chất và NL cần đạt với những biểu hiện cụ thể theo từng cấp học. Đây là điểm mới mà CT GDPT hiện hành chưa có. - Thứ hai, về PPDH của CT GDPT mới nêu lên vai trò của GV là người tổ chức hoạt động, hướng dẫn, hỗ trợ để HS tích cực, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, PT NL, bồi dưỡng tình cảm, thái độ cho mình.
Với PPDH của CT hiện hành HS chủ yếu là tiếp thu một cách thụ động những tri thức được quy định sẵn. GV chủ yếu sử dụng các PP DH truyền thống thì CT GDPT mới chú trọng sử dụng các quan điểm, PP và kỹ thuật DH tích cực; các PP DH thí nghiệm, thực hành. - Thứ ba, về hình thức DH đối với CT GDPT hiện hành chủ yếu DH lý thuyết trên lớp học, kết hợp với dạy thực hành thí nghiệm trong khuôn khổ CT; vai trò của công nghệ thông tin trong tổ chức DH là mờ nhạt. Đối với CT GDPT mới thì hình thức dạy - học đa dạng hơn; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong DH.
9 - Thứ tư, về đánh giá kết quả tiêu chí đánh giá của CT GDPT hiện hành chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện ND đã học; đánh giá chủ yếu bằng điểm số chưa quan tâm đến đánh giá quá trình. Còn tiêu chí đánh giá của CT GDPT mới dựa vào NL đầu ra, chú trọng đến đánh giá kỹ năng, khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn; có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập.TS Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên CT GD phổ thông tổng thể (2018) thì CT GDPT mới có 3 điểm nhấn: - DH phân hóa để phù hợp với từng người, khơi dạy tiềm năng của từng người và càng lên cao càng phân hóa sâu sắc. - DH tích hợp bởi NL là sự huy động tổng hợp các nguồn lực để thực hiện hiệu quả hoạt động giải quyết các vấn đề trong thực tế. DH tích hợp cũng phù hợp với quy luật nhận thức của con người khi đi từ những điều chung nhất, khái quát, tổng hợp rồi dần dần phân hóa.
- DH thông qua hoạt động. Những điểm mới của CT GD phổ thông môn VL mới (2018) Xuất phát từ quan điểm xây dựng CT khác nhau, có thể thấy điểm khác căn bản giữa hai CT thể hiện từ mục tiêu GD, mạch ND của CT, phương pháp và hình thức tổ chức DH đến phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập … Để có cái nhìn khái quát về sự khác nhau cơ bản của CT VL định hướng ND và CT VL định hướng PT NL , ta có thể so sánh thông qua một số điểm dưới đây: - Về mục tiêu: CT định hướng ND nhằm giúp HS đạt được những yêu cầu cụ thể về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Đối với mục tiêu CT định hướng PT chỉ rõ những PT nào cần hình thành và PT cho HS. - Về mạch ND GD: GD VL được thực hiện ở cả ba cấp học với các mức độ khác nhau.
Ở giai đoạn GD cơ bản (cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở), ND GD VL được đề cập trong các môn học: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2, lớp 3); Khoa học (lớp 4, lớp 5); Khoa học tự nhiên (từ lớp 6 đến lớp 9). Ở giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp (cấp THPT), VL là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của HS. - Về phương pháp và hình thức tổ chức DH: CT GDPT môn VL mới có những điểm mới như là xác định rõ nguyên tắc chủ đạo trong DH: tạo cho người 10 học được trải nghiệm, sáng tạo; vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề lý thuyết và thực tiễn. Định hướng sử dụng các PP phù hợp, có ưu thế cho việc PT NL cụ thể.
Hình thức tổ chức DH đa dạng; chú ý các hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo … - Về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS: đối với CT định hướng ND thì nêu cụ thể các hình thức đánh đánh giá; chưa gắn kết với đánh giá NL. Tiêu chí đánh giá vẫn chủ yếu là tái hiện ND đã học; đánh giá chủ yếu bằng điểm số; chưa quan tâm đến đánh giá quá trình. Còn CT định hướng PT NL thì xác định rõ nguyên tắc, ND, hình thức và PP đánh giá theo định hướng PT NL. Chỉ ra một số PP, hình thức đánh giá, công cụ đánh giá phù hợp và có ưu thế khi đánh giá những NL cụ thể của HS.
Tiêu chí chú trọng đến đánh giá kỹ năng, khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn … 1. Một số yêu cầu đặt ra đối với việc triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông môn vật lý mới (2018) 1. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung Môn VL góp phần thực hiện các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và NLC theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong CT tổng thể. Theo CT GDPT tổng thể, CT GD sẽ hình thành và PT cho HS 5 phẩm chất chủ yếu (bao gồm: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và 10 NL cốt lõi.
Các NL cốt lõi gồm ba NLC và 7 NL chuyên môn. - Các NLC là tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, NL GQVĐ và sáng tạo. Những NL này sẽ được tất cả các môn học và hoạt động GD góp phần hình thành, PT. - Các NL chuyên môn gồm NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ, NL thể chất.
Các NL chuyên môn này được hình thành, PT chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động GD có ưu thế nhất định. Các NL, phẩm chất này đều được cụ thể hóa bằng những biểu hiện cụ thể của HS cần đạt được ở từng cấp học. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù trong môn vật lý 11 Môn VL hình thành và PT ở HS NL VL, với những biểu hiện cụ thể sau đây: a) Nhận thức VL Nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ VL; năng lượng và sóng; lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến VL; biểu hiện cụ thể là: - Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình VL.