Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về Chuyển đổi số 1. Khái niệm Chuyển đổi số - Chuyển đổi số là việc sử dụng công nghệ để cải thiện triệt để hiệu suất hoặc phạm vi tiếp cận của doanh nghiệp (Westerman, G. và cộng sự, 2011).
- Chuyển đổi số là sử dụng các công nghệ kỹ thuật số mới nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng, sắp xếp hợp lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay tạo nên mô hình kinh doanh mới (Fitzgerald, M. và cộng sự, 2013). - Chuyển đổi số được hiểu là việc sắp xếp lại hoặc đầu tư mới công nghệ và mô hình kinh doanh để thu hút khách hàng một cách hiệu quả hơn và nâng cao trải nghiệm của họ trong quá trình tiếp cận và sử dụng sản phẩm, dịch vụ (Solis và cộng sự, 2014). - Chuyển đổi số là quá trình không ngừng cải tiến các quy trình và thực tiễn kinh doanh để giúp tổ chức cạnh tranh hiệu quả trong thế giới ngày càng số hóa.
Định nghĩa này bao hàm hai ý nghĩa quan trọng: (i) chuyển đổi số là một yêu cầu khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của tổ chức về cách thức mà tổ chức phản ứng với xu hướng số đang diễn ra, (ii) chuyển đổi số bao gồm không chỉ công nghệ (không được xem công nghệ số như một phao cứu sinh) mà còn các thành phần quan trọng không kém là chiến lược, quản lý nhân tài, cấu trúc tổ chức và lãnh đạo. Chuyển đổi số đòi hỏi kết hợp con người, máy móc và quy trình kinh doanh để liên tục thay đổi cách thức kinh doanh trong việc cân bằng phù hợp giữa cái cũ hiện có và cái mới đang xuất hiện. Tổng hợp một số định nghĩa về chuyển đổi số Tác giả Định nghĩa Bounfour (2016) Chuyển đổi số là sự thay đổi liên quan đến việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong tất cả các khía cạnh của xã hội loài người Gobble (2018) Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi thông tin tương tự sang kỹ thuật số đơn giản. Số hóa đề cập đến việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số, có thể là thông tin được số hóa để tạo ra và thu hoạch giá trị theo những cách thức mới.
12 Tác giả Định nghĩa Rachinger và Chuyển đổi số (tức là quá trình chuyển đổi dữ liệu tương tự thành tập cộng sự (2018) dữ liệu kỹ thuật số) là khuôn khổ cho số hóa, được định nghĩa là việc khai thác các cơ hội kỹ thuật số. Số hóa bằng cách kết hợp các công nghệ khác nhau (ví dụ: công nghệ đám mây, cảm biến, dữ liệu lớn, in 3D) mở ra các khả năng không lường trước được và mang lại tiềm năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ. European Chuyển đổi số được đặc trưng bởi sự kết hợp của công nghệ tiên tiến Commission và sự tích hợp của các hệ thống vật lý và kỹ thuật số, sự nổi trội của (2019) các mô hình kinh doanh sáng tạo và những tiến trình mới, cũng như việc tạo ra những sản phẩm và dịch vụ thông minh. Chuyển đổi số là quá trình mà qua đó các sản phẩm và dịch vụ vật lý Stanton (2020 ) mà mọi người mua trở nên phụ thuộc vào các sản phẩm và dịch vụ ảo.
Chuyển đổi số bao hàm nhiều điều hơn là công nghệ - nó còn bao gồm Patnaik và cộng các kỹ năng và tư duy liên quan đến việc sử dụng các công nghệ kỹ sự (2020) thuật số. Nguồn: Tổng hợp từ tác giả Như vậy có thể hiểu, chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi cách thức hoạt động của doanh nghiệp chuyển từ truyền thống sang ứng dụng trên nền tảng công nghệ số ở mọi khía cạnh như sản phẩm tích hợp số, mô hình kinh doanh, quy trình sản xuất…. nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận lâu dài, phát triển cùng thành tựu khoa học - công nghệ. Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trong CMCN 4.0 - Trong cuộc CMCN 4.0 hiện nay, chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu và là vấn đề sống còn đối với các quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp.
Để tồn tại và phát triển, các tổ chức, doanh nghiệp đang phải nỗ lực thay đổi về cách thức kinh doanh, vận hành và quản lý nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và thay đổi liên tục của khách hàng. Từ năm 2020 đến nay, khi đại dịch Covid-19 xuất hiện, bên cạnh những tác động tiêu cực đến sức khỏe con người và tổ chức, nó cũng đã mang đến những thay đổi trong thói quen của người tiêu dùng cũng như phương thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi chúng ta ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào không gian trực tuyến, ví dụ như làm việc trực tuyến, họp trực tuyến, học trực tuyến, marketing trực tuyến, mua/bán hàng trực tuyến. Đây cũng được coi như là một sức ép buộc các doanh nghiệp phải đẩy nhanh quá trình chuyển 13 đổi số nhằm tìm kiếm một mô hình hoạt động kinh doanh linh hoạt hơn, hiệu quả hơn, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và tiếp tục phát triển. - Trong khoảng 5 năm trở lại đây, khái niệm chuyển đổi số nhận được sự quan tâm ngày càng lớn ở Việt Nam và các doanh nghiệp bắt đầu nhìn nhận chuyển đổi số như một hoạt động tất yếu trong hành trình phát triển và bứt tốc.
Chính phủ Việt Nam coi chuyển đổi số là giải pháp quan trọng để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký quyết định ban hành “Chương trình quốc gia về chuyển đổi số” và chính thức khởi động chương trình chuyển đổi số quốc gia như một cuộc cách mạng toàn dân và toàn diện. Theo đó, Việt Nam tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới, đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động SXKD của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp. Chuyển đổi số không phải là hoạt động dễ dàng mà là một quá trình gian nan, đòi hỏi sự quyết tâm và tham gia của mọi đối tượng. Sự thành công hay thất bại của chuyển đổi số phụ thuộc rất lớn vào sự quyết tâm của hệ thống chính trị và thể chế quốc gia, sự sẵn sàng thay đổi, đổi mới mô hình kinh doanh, phát triển mô hình quản trị dựa trên công nghệ số nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững và sáng tạo của các doanh nghiệp.3 Vai trò của chuyển đối số đối với hoạt động của doanh nghiệp - Chuyển đổi số giúp gia tăng năng lực công nghệ của doanh nghiệp, vốn là một thành phần quan trọng của nguồn lực doanh nghiệp (Patnaik và ctg, 2020).
Năng lực này giúp cho các doanh nghiệp xác định được những thay đổi của môi trường kinh doanh, kiểm soát thông tin nội bộ nhanh chóng và sáng tạo trong việc ra quyết định, điều chỉnh kịp thời các quy trình nội bộ (Lu và Ramamurthy, 2011). - Tiếp cận ở góc nhìn khác, Cruz và ctg (2019) cho rằng, năng lực công nghệ là khả năng huy động và triển khai các nguồn lực dựa trên công nghệ thông tin, tạo ra giá trị kết hợp với các nguồn lực và khả năng khác cũng như kiến thức và quy trình hỗ trợ. Capel và ctg, (2013) lại cho rằng năng lực công nghệ là khả năng sử dụng hiệu quả các công cụ và nguồn thông tin để phân tích, xử lý và trình bày thông tin, mô 14 hình hóa, đo lường và kiểm soát các sự kiện bên ngoài, điều này giúp cân bằng hoạt động của doanh nghiệp với môi trường và xã hội. - Những doanh nghiệp có năng lực CNTT xuất sắc có thể cung cấp các cải tiến cho hiệu suất của công ty thông qua tự động hóa hệ thống, cung cấp dữ liệu thông tin và cho phép các công ty thực hiện chuyển đổi quy trình kinh doanh trong công ty hướng đến phát triển bền vững (Tarigan và Siagian, 2020).
- Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã tìm thấy bằng chứng về CNTT ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức, đồng thời cho thấy có tiềm năng mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể hướng đến hoạt động bền vững của doanh nghiệp (Sanders, 2007). Nhiều hệ thống dựa trên CNTT được sử dụng trong các hoạt động của doanh nghiệp được tìm thấy là có tác động tích cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, như hệ thống quản lý chuỗi cung ứng (Yeniyurt và ctg, 2019; Raut và ctg, 2019), kinh tế chia sẻ (Li và ctg, 2019); hệ thống thông tin giao tiếp (Wu và cộng sự, 2006), góp phần giúp doanh nghiệp phát triển bền vững theo các khía cạnh mục tiêu kinh tế, xã hội và cả môi trường (Eslamian, 2014). Tổng quan về chiến lược chuyển đổi số 1. Khái niệm Chiến lược - William J.Glueck (1984) cho rằng chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện.Porter (2012) cho rằng chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ.David (2012) cho rằng chiến lược là những phương tiện để đạt tới những mục tiêu dài hạn.
Chiến lược có thể gồm sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh. Tuy tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược thường được hiểu là tập hợp các chương trình hành động, biện pháp, cách thức, kế hoạch hành động, được thiết kế nhằm đạt mục tiêu cụ thể. Chiến lược thường liên quan đến các định hướng 15 lớn, mang tính đột phá, dài hạn, có sự tích lũy kế thùa. Một chiến lược cơ bản phải giải quyết tổng hợp được 3 vấn đề cơ bản: (1) xác định chính xác mục tiêu cần đạt; (2) xác định con đường hay phương thức để đạt mục tiêu; (3) phân bổ nguồn lực để đạt mục tiêu đã đề ra.
Khái niệm Chiến lược chuyển đổi số Chuyển đổi số tác động đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sự phát triển của doanh nghiệp. Chuyển đổi số đề cập đến những thay đổi liên quan đến việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số trong mọi khía cạnh của xã hội loài người (Baker, Mark, 2014). Chuyển đổi số mô tả những chuyển đổi vô cùng lớn ở quy mô doanh nghiệp hay thậm chí là thị trường, xã hội (Khan, Shahyan, 2017).