CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH 123doc 1. 1 Khái niệm chiến lược và quản trị chiến lược: 1.1 Khái niệm chiến lược Thuật ngữ chiến lược từ lâu đã được dùng trong lĩnh vực quân sự đó là nghệ thuật sử dụng binh lực của các nhà chỉ huy để chiến thắng, đó là nghệ thuật trên chiến trường để biến yếu thành mạnh, từ thế bị động sang chủ động để dành lấy chiến thắng. Sử gia Edward Mead Earle mô tả chiến lược là “ nghệ thuật kiểm soát và dùng nguồn lực của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia nhằm mục đích đảm bảo và gia tăng hiệu quả cho quyền lợi thiết yếu của mình”. Như vậy trong lĩnh vực quân sự , thuật ngữ chiến lược nói chung được quan niệm như một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh.
Từ giữa thế kỷ XX, thuật ngữ chiến lược được dùng nhiều trong kinh tế vi mô và vĩ mô. Trong quản lý vĩ mô, chiến lược dùng để chỉ những kế hoạch phát triển dài hạn, toàn diện về những định hướng của ngành, vùng hay lãnh thổ. Trong quản lý vi mô, chiến lược cũng nhằm đến sự phát triển nhưng thường gắn với ý nghĩa kinh doanh hay chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trong kinh doanh, nguồn lực của doanh nghiệp có hạn, môi trường kinh doanh luôn biến động và doanh nghiệp luôn luôn đối phó với những nhà cạnh tranh khác do đó thuật ngữ chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp tương tự như trong quân đội.
Một số khái niệm về chiến lược: Alfred Chandler: “ Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời phải lựa chọn cách thức và tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. William J’Glueck: “ Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”. Porter: “ Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Chiến lược là sự chọn lựa 123doc đánh đổi trong cạnh tranh.
Chiến lược là sự tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty”. General Ailleret: “ Chiến lược là những con đường, những phương tiện vận dụng để đạt được mục tiêu đã được xác định thông qua chính sách”. Từ những định nghĩa trên có thể thấy rằng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là sự lựa chọn tối ưu việc phối hợp giữa các nguồn lực của doanh nghiệp (yếu tố bên trong) và các yếu tố bên ngoài để đạt được những mục tiêu cơ bản lâu dài phù hợp với sứ mạng của doanh nghiệp. Cụ thể hóa chiến lược : Chiến lược là một kế hoạch bao gồm: -Những mục tiêu cơ bản, dài hạn chỉ rõ những hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.
-Các quyết định về những biện pháp chủ yếu để đạt được những mục tiêu đó. -Những chính sách nhằm phân bổ các nguồn lực và sử dụng tối ưu các nguồn lực đó. Chiến lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục, vững chắc trong môi trường thường xuyên biến động. Chiến lược của doanh nghiệp được xem như bánh lái của con thuyền còn mục tiêu là cái đích mà con thuyền phải đến.2 Mục tiêu và vai trò của chiến lược Mục tiêu là đích, là những thành quả mà doanh nghiệp phấn đấu để đạt được trong tương lai.
Mục tiêu chiến lược là những mục tiêu cơ bản dài hạn, có tính định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp, nó phải xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp. Mục tiêu chiến lược thường tập trung vào các vấn đề sau: -Lợi nhuận. -Vị thế cạnh tranh. -Đổi mới công nghệ.
-Trách nhiệm xã hội. -Phát triển công ăn việc làm… Mục tiêu phải cụ thể và linh hoạt và phải đo lường được. 123doc Vai trò của chiến lược: Trong điều hành doanh nghiệp nhà quản lý phải hiểu biết về xu thế đang thay đổi trên thị trường, biết khai thác những điểm mạnh của doanh nghiệp, hiểu được đối thủ cạnh tranh, mong muốn của khách hàng. Nếu doanh nghiệp có chiến lược tối ưu sẽ giúp doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp và doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Chiến lược giúp cho doanh nghiệp hạn chế rủi ro tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh ổn định.3 Chiến lược cấp công ty Thường khi mới bắt đầu kinh doanh, doanh nghiệp chỉ tập trung vào một lĩnh vực nào đó sau một thời gian phát triển doanh nghiệp sẽ mở rộng thị trường trong nước và quốc tế hoặc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ hoặc chuyển sang lĩnh vực kinh doanh mới. Khi tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh thì trong tương lai doanh nghiệp có thể có lợi thế cạnh tranh thấp hoặc khó khăn trong tối đa hóa lợi nhuận do ở những ngành đã trưởng thành thì tốc độ tăng trưởng thấp hoặc công ty có thể bỏ lỡ cơ hội sử dụng năng lực vào các lĩnh vực liên quan. Do đó chiến lược cấp công ty có thể là hội nhập dọc, mở rộng thị trường, đa dạng hóa mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh khác. Hội nhập dọc: là việc công ty đảm nhiệm luôn cả khâu cung cấp nguyên liệu hoặc phân phối sản phẩm.
Hội nhập dọc gồm hội nhập về phía sau hoặc về phía trước. Các chiến lược chủ yếu ở cấp công ty: -Chiến lược thâm nhập thị trường: Mục tiêu của chiến lược là tăng thị phần và tìm kiếm khách hàng mới của sản phẩm hay dịch vụ đang có bằng các nỗ lực hoạt động tiếp thị, bán hàng, quảng cáo,… -Chiến lược phát triển thị trường: Chiến lược này tìm kiếm sự tăng trưởng bằng cách tham gia vào thị trường mới. Mục tiêu của chiến lược là tăng cường doanh số bán ra, sử dụng hết khả năng sản xuất của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận và phát triển quy mô. -Chiến lược phát triển sản phẩm: Chiến lược này tìm cách phát triển sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm hiện có để tiêu thụ trên thị trường hiện tại.4 Chiến lược cấp kinh doanh 123doc Để tồn tại trong môi trường cạnh tranh, công ty phải tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Lợi thế cạnh tranh thể hiện qua chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Kết hợp lợi thế cạnh tranh và lĩnh vực kinh doanh của công ty sẽ hình thành ba chiến lược cơ bản: -Chiến lược chi phí thấp: Mục tiêu của công ty theo đuổi chiến lược chi phí thấp là vượt qua đối thủ cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chi phí thấp nhất. -Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm: Mục tiêu của chiến lược khác biệt hóa sản phẩm là đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra sản phẩm được xem là độc đáo, duy nhất đối với khách hàng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng mà các đối thủ cạnh tranh chưa thực hiện được. -Chiến lược tập trung: Chiến lược tập trung chỉ nhằm đáp ứng cho một phân khúc thị trường nào đó.
Công ty có thể áp dụng chiến lược tập trung theo phương thức chi phí thấp hoặc khác biệt hoá.5 Quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là một quá trình liên tục gồm ba giai đoạn là hoạch định chiến lược, thực thi chiến lược và kiểm tra chiến lược. Quản trị chiến lược có thể được coi là một nghệ thuật và khoa học về thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định có liên quan đến nhiều chức năng khác nhau đảm bảo cho doanh nghiệp tiến đến mục tiêu đã đề ra trong khoản thời gian đã định.2 Thiết lập chiến lược: 1.1 Phân tích môi trường bên ngoài Phân tích môi trường bên ngoài nhằm phát hiện ra những cơ hội và những đe dọa đến công ty. Môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Michael Porter đã nhận định: “ Bản chất chính yếu của việc hình thành chiến lược cạnh tranh là gắn kết công ty vào môi trường của nó”.1 Môi trường vĩ mô Môi trường bên ngoài bao giờ cũng chứa những cơ hội và đe dọa đối với doanh nghiệp.
Các yếu tố của môi trường bên ngoài thường là các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên, công nghệ… 123doc Để nghiên cứu các tác động của môi trường vĩ mô người ta thường dựa vào mô hình PETS bao gồm: chính trị pháp lý (political), kinh tế (economic), kỹ thuật công nghệ (technology), tự nhiên, xã hội (nature and sociology). -Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế bao gồm: lãi suất ngân hàng, chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính tiền tệ, tổng sản phẩm quốc nội, hệ thống thuế… Lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng đến xu thế tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư nên ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Tổng sản phẩm quốc nội ảnh hưởng đến thu nhập và ảnh hưởng đến thị phần của doanh nghiệp. Cán cân thanh toán quốc tế có quan hệ với xuất nhập khẩu và ảnh hưởng đến môi trường kinh tế.
Tỷ giá hối đoái tạo ra những cơ hội và đe dọa cho doanh nghiệp. Hệ thống thuế thay đổi cũng có thể tạo ra cơ hội hay đe dọa cho doanh nghiệp. -Các yếu tố chính trị: Bao gồm các quy định về pháp luật mà các yếu tố này tác động lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như chính sách thuế, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm,…Các yếu tố này có thể tạo ra cơ hợi hay nguy cơ cho doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật đưa ra các quy định, các ràng buộc mà doanh nghiệp phải tuân thủ.
Chính phủ là người kiểm soát doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng là khách hàng quan trọng của doanh nghiệp. -Các yếu tố tự nhiên và xã hội: Các yếu tố xã hội bao gồm các chuẩn mực, giá trị, lối sống, nghề nghiệp, dân số, tôn giáo, quan niệm về đạo đức, phong tục tập quán,… Sự tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường mang tính dài hạn và nhiều lúc khó nhận biết. Phạm vi tác động của các yếu tố văn hóa xã hội thường rất rộng và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh. Các yếu tố tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, nguồn tài nguyên, sự ô nhiểm môi trường, thiếu năng lượng, sự tiêu phí tài nguyên thiên nhiên… Điều kiện tự nhiên là một yếu tố hết sức quan trọng của nhiều ngành kinh tế trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các doanh 123doc nghiệp ngoài yếu tố khai thác tự nhiên còn phải góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm và không gây ra ô nhiễm môi trường.