TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Giáo dục và đào tạo từ lâu là đòn bẩy của sự phát triển nền kinh tế quốc gia, và là niềm hy vọng thay đổi số phận của hàng triệu con người trên thế giới. Trong đó, ĐTĐH luôn đóng một vai trò quan trọng bởi lẽ chính ĐTĐH đóng góp phần lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước với phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn, nhạy bén, giàu óc sáng tạo, có đủ năng lực bắt kịp với tốc độ hội nhập và phát triển của thế giới. Sản phẩm đào tạo của các CSĐT đại học quyết định gần như toàn bộ chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Chính vì vậy, ĐTĐH được xem là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của đất nước và luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhà nước cũng như của toàn xã hội.
Mặc dù điều kiện đất nước và NSNN còn nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua nhà nước vẫn quan tâm dành một tỷ lệ ngân sách đáng kể để đầu tư cho giáo dục. Với nguồn ngân sách đó, GD&ĐT mà cụ thể là ĐTĐH đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, bối cảnh mở cửa và hội nhập trên mọi mặt của nền kinh tế - xã hội đã mang tới những khó khăn, thách thức không hề nhỏ với ĐTĐH bởi những tồn tại vốn có như: chưa chấp nhận thực tế ĐTĐH là một loại hình dịch vụ, chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ CPĐT giữa các bên liên quan (nhà nước, người học và toàn xã hội), chế độ chính sách về tài chính, kế toán chưa đáp ứng yêu cầu quản trị đại học theo hướng tự chủ. Theo đó, từ chỗ là những khái niệm xa lạ với nhiều người; hiện nay, thuật ngữ “giá dịch vụ”, “dịch vụ sự nghiệp công” hay “dịch vụ giáo dục đại học” đã dần trở nên quen thuộc.
Việc tính giá dịch vụ sự nghiệp công nói chung, dịch vụ ĐTĐH nói riêng đã trở thành yêu cầu bức thiết đối với mỗi CSĐT đại học bởi những lý do dưới đây: Về mặt lý luận: Tính giá thành là một nội dung có tính xuất phát điểm cho nhiều công việc khác trong kế toán quản trị, vì nó có mối quan hệ mật thiết với nhiều chức năng quản trị, như hoạch định, tổ chức, kiểm soát và ra quyết định. - Tính giá thành góp phần xác định giá thành dịch vụ hoàn thành, qua đó là cơ sở để xác định kết quả hoạt động của từng dịch vụ, từng bộ phận và toàn đơn vị 2 - Tính giá thành giúp các nhà quản trị làm tốt công tác hoạch định và kiểm soát chi phí ở từng nơi phát sinh chi phí (từng khoa, phòng ban, từng hoạt động,…) - Tính giá thành giúp các nhà quản trị trong nỗ lực nhằm giảm thấp chi phí, cải tiến dịch vụ, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ trên thị trường - Tính giá thành là cơ sở để các nhà quản trị xây dựng một chính sách giá bán hợp lý, có tính cạnh tranh và là cơ sở cho nhiều quyết định khác Về mặt pháp lý và thực tiễn. Chiến lược tài chính đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ những năm 2012 (theo quyết định số 450/QĐ- TTg ngày 18/4/2012) đến nay vẫn đang trong quá trình thực hiện và còn nguyên giá trị. Bởi những mục tiêu cần đạt được trong cải cách tài chính và kế toán công như: Đảm bảo cho việc sản xuất và cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng công bằng và hiệu quả hơn; tập trung nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm gắn với công cuộc cải cách hành chính dường như mới bắt đầu khởi động.
Dấu mốc cơ bản đánh dấu yêu cầu bước ngoặt cho quá trình tự chịu trách nhiệm về hoạt động, tự xác định giá dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp công nói chung, các CSĐT đại học nói riêng là nghị định 16/2015/NĐ-CP bằng cách đưa ra lộ trình tính đủ chi phí vào năm 2020 (Năm 2016: tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp; đến năm 2018: tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý; đến năm 2020: tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định). Tuy nhiên, đến nay, khi đã gần chạm tới cột mốc cuối lộ trình nhưng hầu như chưa có một CSĐT đại học nào hoàn thành nhiệm vụ tính giá. Các nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này có thể kể tới là: Nguyên nhân khách quan đến từ cơ quan quản lý như Bộ GD&ĐT chưa ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết nghị định 16/2015/NĐ-CP trong lĩnh vực giáo dục (tình trạng tương tự đối với các lĩnh vực sự nghiệp công khác); hay chế độ kế toán HCSN mặc dù đã sửa đổi theo thông tư 107/2017/TT-BTC trên cơ sở kế toán dồn tích nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc trong công tác kế toán tính giá dịch vụ. Nguyên nhân chủ quan đến từ chính các CSĐT đại học.
Mặc dù ngày 30/8/2019 Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 14/2019/TT-BGD&ĐT hướng dẫn xây dựng, thẩm định, ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật và phương pháp xây dựng giá dịch vụ giáo dục đào tạo một cách rất chi tiết và cụ thể nhưng theo hiểu biết của tác giả thì hiện nay vẫn chưa có CSĐT đại học nào thực hiện xác định giá 3 dịch vụ đào tạo. Điều này có thể được lý giải bởi những ràng buộc về cơ chế chính sách ĐTĐH như: xác định giá dịch vụ thì vẫn nhận kinh phí từ ngân sách (đối với các CSĐT đại học chưa tự chủ), hoặc vẫn bị ràng buộc bởi những quy định trong quản lý tài chính hay học phí (đối với các CSĐT đại học thực hiện thí điểm tự chủ theo nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014). Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, việc tính giá dịch vụ ĐTĐH đã không còn chỉ là yêu cầu mang tính pháp lý phải thực hiện vì đã đến hạn chót mà còn là yêu cầu nội sinh từ chính bản thân các CSĐT đại học, bởi áp lực tự chủ ngày càng cao, muốn tự đứng trên đôi chân của mình, tiên quyết cần nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao kết quả hoạt động; và đương nhiên muốn xác định kết quả hoạt động thì một trong những yêu cầu cơ bản là cần xác định chi phí và tính giá thành dịch vụ do chính mình cung cấp. Điều này càng trở nên cấp thiết với các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính, bởi đặc thù chuyên cung cấp dịch vụ đào tạo có khả năng xã hội hóa cao hơn so với các khối ngành đào tạo khác như kỹ thuật hay y dược; các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh (cả trong và ngoài nước) ngày càng lớn.
Theo hiểu biết của tác giả, thì đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về kế toán chi phí và tính giá dịch vụ công trong điều kiện thực hiện tự chủ tài chính, mà đặc biệt là kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ ĐTĐH tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính. Do vậy, xuất phát từ những đòi hỏi cả về lý luận và thực tiễn như trên, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo nói chung, hoàn thiện công tác quản lý tài chính kế toán nói riêng của các CSĐT ĐHCL trực thuộc Bộ Tài chính, tác giả lựa chọn đề tài: “Kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các CSĐT trực thuộc Bộ Tài chính” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ của mình. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Việc cố gắng khái quát, tìm hiểu mục đích, nội dung, phương pháp và kết quả của những nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố trước đây, về một số mảng nội dung khác nhau có liên quan gần đến hướng nghiên cứu của luận án như 4 “kế toán”, “kế toán công”, “chi phí”, “giá thành”, “dịch vụ công” và “dịch vụ đào tạo đại học” được trình bày tại nội dung này, giúp tác giả thực hiện được 2 mục tiêu: Một là, khẳng định khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án: Chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về đề tài “Kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ đào tạo đại học tại các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính” Hai là, góp phần xây dựng nền tảng cơ sở nghiên cứu dựa trên việc kế thừa các kết quả nghiên cứu trước. Qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy, các công trình nghiên cứu về kế toán chủ yếu tập trung vào 2 hướng nghiên cứu kế toán chi phí và tính giá thành dịch vụ theo quan điểm kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Bên cạnh đó, do đặc thù về loại hình sản phẩm dịch vụ công của ĐTĐH, còn có những công trình nghiên cứu về quản lý tài chính khu vực công và ĐTĐH. Cụ thể, một số công trình nghiên cứu có liên quan gần nhất đến luận án là: 2. Công trình nghiên cứu về kế toán Trên quan điểm của kế toán tài chính Công trình nghiên cứu trên thế giới Y Nghiên cứu về kế toán nhà nước trong cuốn “Accounting for Governmental and Nonprofit entities” (tạm dịch: “Kế toán nhà nước và tổ chức phi lợi nhuận”) của tác giả: Earl R. Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu khá công phu về các khía cạnh khác nhau trong hoạt động của các đơn vị công phi lợi nhuận.
Các nội dung nghiên cứu trong cuốn sách bao gồm: các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, hướng dẫn cách thức ghi nhận các sự kiện, cách thức lập báo cáo tài chính. Nghiên cứu cũng đi sâu vào phân tích đặc thù hoạt động của một số lĩnh vực sự nghiệp như tổ chức công tác kế toán trong trường học, bệnh viện, các đơn vị lực lượng vũ trang. Y Nghiên cứu về kế toán công của bốn tác giả Ehsan Rayegan, Mehdi Parveizi, Kamran Nazari và Mostafa Emami với tiêu đề: “Kế toán công: Đánh giá về lý thuyết, mục tiêu và các tiêu chuẩn” (“Government accounting: An Assessment of Theory, Purposes and Standards”) đã đưa ra sự tổng hợp các vấn đề trong thực hiện kế toán của các đơn vị công lập, trong đó bao gồm công tác tổ chức kế toán dựa trên hai nguyên tắc là kế toán tiền mặt và kế toán dồn tích.