mở đầu này khi Luật Kế toán Việt Nam đã quy định về KTQT ở các đơn vị nhƣ sau: “KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị kế toán (Quốc hội, 2003). Tuy nhiên, việc này chỉ đƣợc dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chƣa có một quyết định cụ thể hay hƣớng dẫn thi hành mang tính tổng quát. Để có cơ sở vận dụng nhiều hơn trong thực tiễn, Bộ Tài chính (2006) đã ban hành Thông tƣ số 53/2006/TT-BTC về hƣớng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp chính thức đƣợc ra đời nhằm hƣớng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT. Từ khi ra đời đến nay vẫn chƣa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tƣ vấn xây dựng hệ thống KTQT.
Còn đối với các doanh nghiệp, thì KTQT vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành KTQThiện đại tại Việt Nam. Cũng nhƣ theo xu thế tiến hoá chung, KTQT vào Việt Nam ban đầu 5 với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi phí. Phƣơng pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bƣớc đầu còn đơn giản và thiếu chính xác. Sau khi kinh tế tƣ nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới đƣợc phát triển rầm rộ.Phƣơng pháp lập kế hoạch ở nhiều doanh nghiệp cũng khác nhau.
Về cơ bản, phƣơng pháp lập kế hoạch đƣợc phân làm 2 cách: - Thứ nhất, lập kế hoạch dựa trên sự tăng trƣởng. Các doanh nghiệp thƣờng dựa trên sự phát triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăng trƣởng của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ƣớc lƣợng kế hoạch thực hiện cho tƣơng lai. Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc vận dụng khá phổ biến hiện nay do dể thực hiện và ƣớc lƣợng tƣơng đối chính xác. Các doanh nghiệp hoạt động trong khối sản xuất thƣờng vận dụng theo phƣơng pháp này.
- Thứ hai, dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thƣờng dựa vào mục tiêu tăng trƣởng của mình trong thời gian tới và đề ra kế hoạch hành động sao cho thực hiện đƣợc mục tiêu đó. Phƣơng pháp lập kế hoạch này thƣờng đƣợc vận dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ. Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợp giữa hai phƣơng pháp trên do sự phức tạp trong khâu lƣợng hoá số liệu kế hoạch và hạ tầng thông tin chƣa đáp ứng đƣợc.
Hệ thống quản trị và kiểm soát chi phí cũng đƣợc hình thành theo nhu cầu quản trị của doanh nghiệp, theo cùng với hệ thống lập kế hoạch (dự toán). Tuy nhiên, việc kiểm soát chi phí chỉ dừng lại ở một vài khoản mục chi phí phát sinh tƣơng đối lớn và chiếm tỉ trọng cao nhƣ: chi phí quảng cáo tiếp thị, chi phí vận chuyển, lƣơng… (trong chi phí bán hàng); chi phí tiếp khách, đào tạo,…(trong chi phí quản lý doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc quản lý chi phí ở khâu sản xuất (đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất) cũng đƣợc tổ chức chặt chẽ nhằm giảm giá thành sản phẩm. Chi phí đào tạo trong trƣờng đại học công lập 2.
Khái quát chung về trường đại học công lập a. Khái niệm trường đại học công lập Trƣờng đại học công lập là một dạng của đơn vị sự nghiệp. Theo Luật viên chức số 58/2010/QH12 (Quốc hội, 2010) “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp 6 dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc”. Đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau: - Theo tính chất, các đơn vị HCSN bao gồm: + Đơn vị hành chính thuần túy: đó là các cơ quan công quyền trong bộ máy hành chính nhà nƣớc (các đơn vị quản lý hành chính nhà nƣớc).
+ Đơn vị sự nghiệp: sự nghiệp văn hóa, sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp y tế, sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp nghiên cứu khoa học,… +Tổ chức đoàn thể, xã hội, nghề nghiệp, tổ chức quần chúng,… - Theo phân loại mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp bao gồm: + Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ + Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thƣờng xuyên + Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thƣờng xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chƣa kết cấu đủ chi phí, đƣợc Nhà nƣớc đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chƣa tính đủ chi phí). + Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nƣớc bảo đảm chi thƣờng xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ đƣợc cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp). Nhƣ vậy, đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) rất đa dạng, phạm vi rộng, chi cho hoạt động chủ yếu đƣợc thực hiện thông qua nguồn kinh phí của nhà nƣớc cấp phát. Đặc điểm nổi bật của đơn vị HCSN là không phải là đơn vị hạch toán kinh tế, chức năng chủ yếu không phải là sản xuất kinh doanh mà hoạt động theo mục tiêu, nhiệm vụ của Nhà nƣớc.
Từ năm 2006, Nhà nƣớc đã quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL), trong đó có trƣờng ĐHCL (Chính phủ, 2006). Tuy nhiên, những cơ chế chính sách vận dụng trong ngành giáo dục và đào tạo đã quy định nhiều năm nay chƣa đƣợc sửa đổi, chƣa làm rõ trách nhiệm chia sẻ kinh phí đào tạo giữa nhà nƣớc, xã hội và ngƣời học. Do vậy, việc khuyến khích các trƣờng đầu tƣ cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, vẫn còn tạo ra sự thiếu bình đẳng về điều kiện phát triển của các trƣờng ĐHCL với các cơ sở giáo dục đại học ngoài công 7 lập và đặc biệt là các cơ sở giáo dục đại học có yếu tố nƣớc ngoài. Mặt khác, do bị ảnh hƣởng bởi cơ chế cấp phát Ngân sách Nhà nƣớc (NSNN) theo kiểu “bình quân chủ nghĩa” trong một thời gian dài nên tình trạng trông chờ vào “bầu sữa” NSNN của các trƣờng ĐHCL đƣợc coi là một cản trở lớn trong việc thực hiện chủ trƣơng phát triển giáo dục đại học theo hƣớng trao quyền tự chủ.
Chính điều này, đã dẫn đến sự thụ động, thiếu linh hoạt và ít dám chịu trách nhiệm của các nhà quản lý trong việc quản lý hoạt động nói chung và quản lý tài chính nói riêng ở các trƣờng ĐHCL (Trần Đức Trung, 2016). Qua quá trình thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006, bên cạnh những mặt tích cực cũng cho thấy những hạn chế, bất cập nhƣ các trƣờng ĐHCL đƣợc giao tự chủ nhƣng vẫn phải tuân thủ mức trần học phí do Nhà nƣớc quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP (Chính phủ, 2009) trong khi mức học phí quy định chƣa đảm bảo bù đắp đủ chi phí hoạt động cần thiết, chƣa sát với yêu cầu chi phí đặc thù của từng ngành, nghề đào tạo cũng nhƣ chƣa gắn với yêu cầu về chất lƣợng, thƣơng hiệu của từng trƣờng ĐHCL; cơ chế phân bổ NSNN cho các trƣờng ĐHCL còn mang tính bình quân và dựa trên các yếu tố đầu vào mà chƣa gắn với kết quả, hiệu quả hoạt động; khó khăn trong việc triển khai thực hiện xã hội hóa và liên doanh liên kết do quy định còn chƣa cụ thể, rõ ràng; tự chủ về nhân sự bị hạn chế do cấp trên vẫn giao chỉ tiêu biên chế sự nghiệp… Xuất phát từ những bất cập trên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP (Chính phủ, 2014) về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các trƣờng ĐHCL giai đoạn 2014 - 2017 và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP (Chính phủ, 2016) về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế cho Nghị định 43/2006/NĐ-CP khuyến khích và tạo điều kiện cho tất cả các trƣờng ĐHCL có đủ điều kiện, cam kết tự đảm bảo kinh phí hoạt động chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ đƣợc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Các nội dung của tự chủ đại học Tự chủ đại học bao gồm 4 nội dung chính: Tự chủ về tổ chức; tự chủ về tài chính; tự chủ về nhân sự; tự chủ về học thuật (EUA, 2013). Trong các nội dung này, tự chủ về tổ chức và tự chủ về tài chính đƣợc xem là những tiền đề quan trọng có khả năng hoàn thiện toàn bộ các nội dung tự chủ khác.
Tự chủ tài chính cho phép các trƣờng huy động nguồn lực tài chính và duy trì nguồn lực tài chính, đảm bảo việc tuyển chọn lực lƣợng học thuật tốt nhất, từ đó phát triển học thuật theo hƣớng sáng tạo đổi mới theo chiến lƣợc của từng trƣờng đại học. Các nội dung chính của tự chủ đại học Tự chủ về tài Tự chủ về học Tự chủ về tổ chức Tự chủ về nhân sự chính thuật - Tuyển dụng hiệu - Quyết định mức - Tuyển dụng giảng - Quyết định số trƣởng, xác định các học phí. viên và nhân viên có lƣợng sinh viên tiêu chí để tuyển - Trả lƣơng cho năng lực mà không tuyển sinh. dụng hiệu trƣởng.
giảng viên theo có sự can thiệp từ - Quyết định tiêu - Quyết định nhiệm thành tích nghiên bên ngoài. chuẩn tuyển sinh. kỳ/miễn nhiệm hiệu cứu và giảng dạy. - Quyết định tiêu chí, - Mở ngành học.
- Phân bổ ngân quy trình tuyển chọn, - Lựa chọn ngôn - Lựa chọn thành sách một các độc sa thải nhân sự. ngữ giảng dạy. viên bên ngoài lập. - Quyết định mức - Lựa chọn cơ chế trƣờng vào ban quản - Sở hữu bất động lƣơng theo năng lực đảm bảo chất lƣợng.
trị/ hội đồng trƣờng. sản, tài sản tài của giảng viên, nhân viên. - Lựa chọn cơ quan - Quyết định về tổ chính. kiểm định phù hợp.
chức các khoa, bộ - Vay mƣợn, đầu - Quyết định các tiêu môn. chí tăng lƣơng, - Xây dựng nội dung tƣ ở thị trƣờng tài thƣởng. giảng dạy theo - Quyết định chu chính. những quy định trình, tiêu chí bổ - Quyết định các tiêu khung.
nhiệm giáo sƣ, phó chí thăng chức vụ. Nguồn: European University Association (2013) 2.