Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu
Giáo dục đại học Việt Nam trong những năm qua đã có bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng hóa loại hình cơ sở đào tạo và phương thức đào tạo, huy động được nhiều nguồn lực xã hội nhằm cung ứng nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục đại học công lập đang đứng trước nhiều thách thức lớn: cơ chế quản lý nhà nước chậm đổi mới, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng toàn diện nhu cầu xã hội, số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên ở một số chuyên ngành còn thiếu và yếu, điều kiện cơ sở vật chất và năng lực tài chính còn hạn chế.
Tự chủ và tự chịu trách nhiệm là thuộc tính cơ bản của các cơ sở giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm từng bước mở rộng quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, và Nghị định số 60/2021/NĐ-CP), việc phân định và thực thi quyền tự chủ tại các trường đại học công lập vẫn còn bộc lộ những rào cản về tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt và trách nhiệm giải trình.
Đặc biệt, nguồn thu của các trường đại học công lập hiện nay hình thành từ ngân sách Nhà nước cấp (thường dưới 50%, nhiều trường chỉ đạt 10% đến 20%) và nguồn thu sự nghiệp ngoài ngân sách (chủ yếu là học phí, lệ phí). Ngoại trừ các trường khối kinh tế, luật có khả năng tự bảo đảm trên 50% chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp, các cơ sở đào tạo khối nghệ thuật và thể dục thể thao (NT-TDTT) gặp rất nhiều khó khăn. Do quy mô tuyển sinh nhỏ, chi phí đào tạo trên mỗi người học rất lớn, yêu cầu cơ sở vật chất chuyên biệt cao và nguồn thu ngoài ngân sách rất hạn hẹp, các trường NT-TDTT hầu như không có khả năng tự cân đối thu chi nếu áp dụng chung cơ chế tự chủ như các khối ngành khác. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào đi sâu phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng vận hành và kết quả thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đào tạo NT-TDTT công lập. Do đó, việc thực hiện luận án là yêu cầu cấp thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa, bổ sung và cập nhật các luận điểm lý luận về cơ chế tự chủ tài chính trong giáo dục đại học, vận dụng cụ thể cho các cơ sở đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao công lập.
- Đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập ở Việt Nam giai đoạn 2011–2019 (từ mốc 5 năm sau khi triển khai Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đến năm 2019), phân tích những kết quả đạt được, khó khăn và hạn chế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và các điều kiện thực hiện nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao công lập ở nước ta với tầm nhìn đến năm 2025.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu chính:
- Thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập ở nước ta trong thời gian qua diễn ra như thế nào? Đâu là những thuận lợi, khó khăn và hiệu quả của việc thực hiện cơ chế này?
- Để thúc đẩy hoạt động tạo nguồn thu và nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính tại các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập, cần đổi mới cơ chế tự chủ tài chính theo hướng nào?
- Những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công cơ chế tự chủ tài chính tại các trường nghệ thuật, thể dục thể thao công lập là gì?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế tự chủ tài chính trong các trường đào tạo nghệ thuật - thể dục thể thao công lập ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Các yếu tố cấu thành cơ chế tự chủ tài chính; tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện; tác động của cơ chế tự chủ tài chính đến khai thác nguồn thu, phân bổ, sử dụng kinh phí và trách nhiệm giải trình tài chính của các trường NT-TDTT công lập.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn 2011–2019 (giai đoạn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP, áp dụng các nội dung mới của Nghị định 16/2015/NĐ-CP) và cập nhật khung chính sách theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật và thể dục thể thao trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý tại 3 địa bàn: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh (khảo sát trực tiếp tại 15/21 cơ sở và thu thập số liệu điều tra trên toàn bộ 21 cơ sở đào tạo của Bộ).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế theo 4 nhóm vấn đề chính:
-
Nội hàm khái niệm tự chủ đại học và tự chủ tài chính:
- Barrow và Milburn (1990) phân tích nguồn gốc từ nguyên của khái niệm tự chủ (autos - tự động, nomos - luật pháp).
- G. Neave (1988), U. Felt và Glanz (2003), J. Olsen (2005) tiếp cận tự chủ đại học từ bối cảnh kinh tế, chính trị, thể chế và lịch sử phát triển của giáo dục đại học.
- Ashby và Anderson (1966) xác định 6 thành tố thiết yếu của đại học tự chủ (tự do tuyển sinh, tuyển dụng nhân sự, thiết lập chuẩn mực riêng, cấp văn bằng, thiết kế chương trình và phân bổ thu nhập).
- Frazer (1997) hệ thống hóa 7 yếu tố cấu thành quyền tự chủ tổ chức, trong khi Berdahl (1990) và Volkwein và Malik (1997) phân biệt giữa tự chủ nội dung học thuật (substantive autonomy) và tự chủ thủ tục hành chính (procedural autonomy).
- Về tự chủ tài chính: Yeager, Nelson, Potter, Weidman và Zullo (2001) xem xét tự chủ tài chính dưới góc độ quản lý chi phí, lập kế hoạch và nguồn lực; Slaughter và Leslie (1997), Barney (1991), Sizer và Mackie (1995) xem tự chủ tài chính gắn liền với năng lực huy động, phân bổ tài nguyên tiền tệ và phi tiền tệ; Cazenave (1992) phân biệt tự chủ tài nguyên và tự chủ thực thể; Dill (2001), Jongbloed (2000), Volkwein (1986) nhấn mạnh tính linh hoạt tài chính (ngân sách trọn gói, giữ lại nguồn thu, quyền ấn định học phí).
-
Quá trình chuyển đổi cơ chế tự chủ trong bối cảnh công nghiệp hóa, toàn cầu hóa và kinh tế thị trường:
- Hauptman (2006), Altbach (2007), Kmineva (2009), Levin, Dong Wook Jeong và Dongshu Ou (2009) nghiên cứu xu hướng tài chính và các thách thức mới của giáo dục đại học thế kỷ 21.
- David W. Chapman và Ann E. Austin (2002) khái quát 5 thách thức lớn mà các trường đại học đối mặt: cân bằng quan hệ với chính phủ, ứng phó vấn đề tự chủ, nâng cao chất lượng đi đôi kiểm soát chi phí, áp lực trách nhiệm giải trình và hỗ trợ người học.
-
So sánh cơ chế, chính sách tự chủ đại học giữa các trường và quốc gia:
- Michael Mitsopoulos và Theodore Pelagidis (2008) so sánh tự chủ hành chính - tài chính tại 7 quốc gia EU (Đức, Bỉ, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Italia, Pháp, Anh).
- Su Yan Pan (2009) khảo sát tự chủ đại học tại Trung Quốc; Vuokko Kohtamäki (2009) phân tích chính sách tự chủ tài chính tại Phần Lan; Nyewusira và Chituru Nyewusira (2013) chỉ ra bất cập tại Nigeria; Liudvika Leisyte so sánh cải cách tại Anh và Hà Lan; Laura de Dominicis, Susana Elena Pérez, Ana Fernández-Zubieta (2011) nghiên cứu sự đa dạng hóa nguồn vốn của các đại học châu Âu.
-
Tự chủ đại học và tự chủ tài chính trong quan hệ giữa trường đại học và Nhà nước:
- Tapper và Salter (1995), Kogan và Marton (2000), Slaughter và Leslie (1997) phân tích sự chuyển dịch từ kiểm soát trực tiếp sang gián tiếp thông qua khuôn khổ pháp lý, tài trợ theo kết quả đầu ra và cơ chế thị trường.
- Hsu Yu-Ling Flora (2009) khảo sát 167 trường đại học châu Á, chỉ ra ảnh hưởng của quản lý từ trên xuống tại Đài Loan, Malaysia so với tính chủ động tại Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Frank Ziegele (1998) cảnh báo nguy cơ "tự chủ tài chính giả hiệu" và đề xuất mô hình tài trợ trọn gói dựa trên kinh nghiệm bang Lower Saxony (Đức).
Các hướng nghiên cứu trong nước
Các học giả trong nước tập trung vào các mảng chủ đề:
- Nghiên cứu mô hình tự chủ và quản trị đại học: Lâm Quang Thiệp (2005), David Dapice (2005), Hoàng Tụy (2008), Jim Cobbe (2008), Lee Little Soldier (2008).
- Cơ chế quản lý tài chính và ngân sách giáo dục: Nguyễn Duy Tạo (2000) nghiên cứu quy trình dự toán, phân bổ và giám sát tài chính trường công lập; Trần Thị Thu Hà (1993) phân tích quản lý ngân sách giáo dục; Đặng Văn Du (2004) xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục đại học; Lê Phước Minh (2005) phân tích thực trạng và giải pháp chính sách tài chính giáo dục đại học.
- Xã hội hóa và đổi mới cơ chế tài chính: Bùi Tiến Hanh (2006) nghiên cứu tài chính thúc đẩy xã hội hóa giáo dục; Nguyễn Anh Thái (2008) đề xuất 6 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính trường đại học công lập; Nguyễn Thu Hương (2011) nghiên cứu tự chủ học phí gắn với trách nhiệm xã hội; Phùng Xuân Nhạ và cộng sự (2012) đề xuất lộ trình tự chủ học phí cho các ngành có khả năng xã hội hóa cao, đồng thời Nhà nước đặt hàng tính đúng, tính đủ cho các ngành đặc thù như nghệ thuật, sư phạm, khoa học cơ bản.
- Mô hình đại học tư thục và các hội thảo chuyên đề: Các bài viết của Nguyễn Thiệu Tống, Nguyễn Thanh Tuyền, Võ Tòng Xuân, Lê Văn Hảo, Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Thị Yến Nam, Nguyễn Văn Khôi (2009) cùng chuỗi hội thảo do Bộ GDĐT, Bộ Tài chính, UNDP và các trường đại học tổ chức.
Khoảng trống nghiên cứu của luận án
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận cơ chế tự chủ tài chính ở phạm vi chung cho toàn bộ hệ thống đại học công lập, hoặc tập trung vào các trường khối kinh tế, kỹ thuật, sư phạm tổng hợp. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học, cao đẳng công lập thuộc khối nghệ thuật và thể dục thể thao – nơi có chi phí đào tạo đặc thù, quy mô đào tạo hẹp và khả năng xã hội hóa nguồn thu gặp nhiều hạn chế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Các lý thuyết và khung phân tích sử dụng
Luận án vận dụng 4 lý thuyết quản lý và kinh tế nền tảng:
- Lý thuyết hệ thống (System Theory): Được đề xướng bởi Ludwig von Bertalanffy (1940). Thiết chế giáo dục đào tạo NT-TDTT được xem như một hệ thống mở gồm các thành tố nội bộ (giảng dạy, nghiên cứu, quản trị, tài chính) tương tác liên tục với môi trường bên ngoài (chính sách của Nhà nước, nhu cầu thị trường, người học). Khi chính sách tự chủ tài chính thay đổi, trạng thái cân bằng cũ bị phá vỡ, đòi hỏi nhà trường phải tái cấu trúc để thích ứng.
- Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory): Nhấn mạnh không có mô hình quản lý duy nhất tối ưu; việc thiết kế cơ cấu tổ chức và cơ chế tài chính phải phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của môi trường bên ngoài và đặc điểm nội tại của từng cơ sở đào tạo.
- Lý thuyết chủ thể - đại diện (Principal - Agent Theory): Ứng dụng giải thích mối quan hệ ủy thác giữa Nhà nước (chủ thể) và ban lãnh đạo nhà trường (đại diện) trong việc quản lý và sử dụng công quỹ, xử lý bất đối xứng thông tin, xung đột mục tiêu và cơ chế giám sát trách nhiệm giải trình.
- Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (Resource Dependence Theory - Pfeffer & Salancik 1978): Phân tích cách thức tổ chức ứng phó với sự phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài (ngân sách nhà nước, học phí, tài trợ). Các trường NT-TDTT tìm cách đa dạng hóa nguồn tài chính hoặc liên kết để giảm thiểu sự chi phối từ nguồn tài nguyên đơn lẻ.
Bên cạnh đó, luận án phân tích các mô hình quản lý và tài chính đại học:
- 4 mô hình phát triển tài chính của Arthur Hauptman (2007): (1) Miễn phí hoặc học phí thấp; (2) Chi phí đại học hoàn trả sau tốt nghiệp qua thuế/vay tín dụng (HECS); (3) Tăng học phí kết hợp hỗ trợ sinh viên khó khăn; (4) Mở rộng khu vực đại học tư (phi lợi nhuận và vì lợi nhuận).
- Các mô hình tự chủ đại học truyền thống: Mô hình Napoléon (Pháp - kiểm soát tập trung), mô hình Humboldt (Đức - tự do học thuật), mô hình Anh (tự trị thể chế rộng rãi), mô hình Hoa Kỳ (gắn với thị trường và quản trị đại chúng) theo phân loại của Guy Neave (1998) và Burton Clark (1993).
- Khung so sánh quản lý tài chính của John Fielden (2011): Phân biệt giữa cơ chế Nhà nước kiểm soát trực tiếp và mô hình đại học tự chủ về ngân sách, thẩm quyền giữ lại thặng dư thu - chi và quản lý tài sản.
Khung phân tích tự chủ tài chính cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập:
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp phân tích tài chính: Đánh giá việc phân bổ, quản lý, chấp hành dự toán thu - chi ngân sách theo các quy định pháp luật qua từng thời kỳ (Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP, Nghị định 60/2021/NĐ-CP và các Thông tư liên tịch).
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả tiến hành điều tra khảo sát tại 21 cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với 2 mẫu phiếu:
| Tiêu chí |
Mẫu phiếu số 01 |
Mẫu phiếu số 02 |
| Đối tượng khảo sát |
Cán bộ lãnh đạo, quản lý CSĐT (Hiệu trưởng, 01 Phó Hiệu trưởng chuyên môn, 01 cán bộ tài chính, 01 cán bộ văn phòng) |
Viên chức, giảng viên và người lao động tại các CSĐT |
| Quy mô mẫu |
21 CSĐT x 04 người = 84 phiếu |
21 CSĐT x 10 người = 210 phiếu |
| Nội dung khảo sát |
Nhận thức về TCTC; khả năng kiểm soát/giải quyết công việc; xây dựng và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ (CTNB); công tác đào tạo bồi dưỡng; đánh giá tác động của TCTC |
Nhận thức về TCTC; mức độ tiếp nhận thông tin từ lãnh đạo; tham gia xây dựng và thực hiện quy chế CTNB; đánh giá tác động của TCTC |
- Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Thực hiện đối với các chuyên gia, nhà quản lý tài chính, giảng viên và cán bộ quản trị trường NT-TDTT nhằm thu thập các đánh giá định tính chuyên sâu.
- Phương pháp thống kê và phân tích dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu tài chính giai đoạn 2015–2019 từ báo cáo tài chính, báo cáo dự toán, quyết toán của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các văn bản chính sách của Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến tự chủ đại học và cơ chế tự chủ tài chính. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành các mảng lý luận về nguồn gốc, nội hàm quyền tự chủ (học thuật, nhân sự, tổ chức bộ máy, tài chính), các mô hình tài chính giáo dục đại học trên thế giới (mô hình Anglo-Saxon, châu Âu lục địa, Bắc Mỹ) và kinh nghiệm chuyển đổi của các quốc gia đang phát triển. Chương này xác lập khoảng trống khoa học: việc thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu đánh giá thực trạng tự chủ tài chính đối với các trường đào tạo lĩnh vực đặc thù văn hóa nghệ thuật và thể dục thể thao công lập tại Việt Nam.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP
Chương 2 xây dựng khung lý luận về tự chủ tài chính áp dụng cho cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập với các nội dung trọng tâm:
- Đặc trưng của cơ sở đào tạo NT-TDTT công lập: Là đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công ích đặc thù; quy mô lớp học nhỏ (nhiều bộ môn nghệ thuật đào tạo 1 kèm 1 hoặc nhóm nhỏ); thời gian đào tạo kéo dài từ cấp năng khiếu đến đại học; chi phí cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhạc cụ, sân bãi chuyên dụng rất tốn kém; đầu ra phục vụ bảo tồn di sản văn hóa và thành tích thể thao quốc gia, khó thương mại hóa đại trà.
- Bản chất và nội dung cơ chế tự chủ tài chính: Bao gồm tự chủ trong tạo lập nguồn thu (ngân sách nhà nước, học phí, dịch vụ sự nghiệp, liên doanh liên kết, tài trợ); tự chủ trong sử dụng các nguồn kinh phí (chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả lương và thu nhập tăng thêm theo kết quả công việc); tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản công; và trách nhiệm giải trình tài chính.
- Các nguyên tắc thực hiện: Bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; gắn quyền tự chủ với trách nhiệm giải trình; công khai, minh bạch; bảo đảm quyền lợi người học và người lao động.
- Hệ thống 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính: (1) Tính đầy đủ và đồng bộ của khung pháp lý; (2) Tính chủ động và đa dạng trong khai thác nguồn thu; (3) Tính hiệu quả, tiết kiệm và linh hoạt trong chi tiêu; (4) Mức độ gắn kết giữa thu nhập của người lao động với kết quả công việc; (5) Mức độ tự chủ trong quản lý, khai thác tài sản công; (6) Tính minh bạch và hiệu lực của cơ chế kiểm soát nội bộ, trách nhiệm giải trình.
- Kinh nghiệm quốc tế: Tổng kết kinh nghiệm quản lý và tài trợ đào tạo nghệ thuật, thể thao tại một số quốc gia, rút ra bài học cho Việt Nam về cơ chế đặt hàng đào tạo từ ngân sách, quỹ học bổng tài năng và chính sách ưu đãi thuế cho hoạt động tài trợ nghệ thuật.
Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT, THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng tổ chức và vận hành cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2011–2019.
Hệ thống dữ liệu và bảng số liệu thực chứng được tác giả xây dựng bao gồm:
- Bảng 3.1: Số lượng các trường văn hóa nghệ thuật cả nước.
- Bảng 3.2: Báo cáo tình hình thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập năm 2018.
- Bảng 3.3: Tổng hợp ngân sách giao tự chủ cho các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL giai đoạn 2016-2019.
- Bảng 3.4: Tổng hợp bổ sung kinh phí hoạt động của các trường NT-TDTT năm 2019.
- Bảng 3.5: Kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) cấp cho các trường NT-TDTT của Bộ VHTTDL.
- Bảng 3.6: Tổng hợp nguồn thu của các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ VHTTDL năm 2019.
- Bảng 3.7: Tổng hợp nguồn thu của các trường NT-TDTT giai đoạn 2015-2019.
- Bảng 3.8: Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo phụ cấp chức vụ ($K_1$) và hệ số chức vụ.
- Bảng 3.9: Bảng quy đổi giữa hệ số tính theo lương ($K_2$) và hệ số lương.
- Bảng 3.10: Tổng hợp số liệu nộp NSNN của các trường NT-TDTT năm 2019.
Các phát hiện thực tiễn quan trọng:
- Về nguồn tài chính: Phần lớn các trường NT-TDTT vẫn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách Nhà nước cấp (chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng nguồn thu). Nguồn thu sự nghiệp ngoài ngân sách (học phí, dịch vụ) chiếm tỷ trọng rất thấp do mức trần học phí bị khống chế theo quy định chung (như Nghị định 49/2010/NĐ-CP và các văn bản kế tiếp), trong khi số lượng sinh viên mỗi ngành rất ít, không thể mở rộng quy mô đại trà như các khối ngành khác.
- Về phân bổ và sử dụng ngân sách: Dự toán ngân sách nhà nước giao tự chủ chủ yếu dựa trên định mức biên chế và số lượng học sinh/sinh viên theo phương thức truyền thống, chưa thực sự gắn với chi phí định mức kinh tế - kỹ thuật đặc thù của đào tạo năng khiếu nghệ thuật và thể thao đỉnh cao.
- Về quy chế chi tiêu nội bộ và thu nhập tăng thêm: Các trường đã chủ động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, sử dụng hệ số điều chỉnh thu nhập tăng thêm gắn với chức vụ ($K_1$) và bậc lương ($K_2$). Tuy nhiên, do nguồn thu dịch vụ và kinh phí tiết kiệm được hạn chế, hệ số thu nhập tăng thêm thực tế chi trả cho cán bộ, giảng viên còn ở mức khiêm tốn.
- Về kết quả khảo sát: Kết quả từ 84 phiếu khảo sát lãnh đạo và 210 phiếu khảo sát viên chức cho thấy phần lớn đối tượng đồng tình với sự cần thiết của tự chủ tài chính nhưng đánh giá mức độ tự chủ thực tế của nhà trường còn thấp; cơ chế xin - cho và sự phụ thuộc vào phê duyệt của cơ quan chủ quản đối với việc sử dụng tài sản công, tuyển dụng nhân sự còn nặng nề.
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỆ THUẬT VÀ THỂ DỤC THỂ THAO CÔNG LẬP
Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp và điều kiện thực hiện có tính hệ thống nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính cho khối trường NT-TDTT đến năm 2025:
- Đổi mới cơ chế học phí: Xây dựng khung học phí riêng phù hợp với chi phí đào tạo đặc thù của khối ngành NT-TDTT; cho phép áp dụng mức học phí tương xứng đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao hoặc người học có nhu cầu đặc thù.
- Đổi mới cơ chế phân bổ NSNN: Chuyển đổi căn bản từ cấp phát kinh phí theo dự toán đầu vào/biên chế sang cơ chế Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo gắn với định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí chất lượng đầu ra; tính đúng, tính đủ chi phí đối với các ngành nghệ thuật truyền thống, thể thao thành tích cao.
- Áp dụng linh hoạt các quy định pháp luật: Hướng dẫn vận dụng phù hợp các nội dung quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP và Nghị định 60/2021/NĐ-CP; tháo gỡ rào cản về liên doanh, liên kết, sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê, dịch vụ để tăng nguồn thu hợp pháp.
- Đổi mới chính sách đối với người học: Hoàn thiện chính sách cấp bù học phí, học bổng khuyến khích tài năng, trợ cấp trang thiết bị luyện tập và mở rộng tín dụng ưu đãi cho sinh viên năng khiếu NT-TDTT.
- Nâng cao quyền tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự: Trao quyền chủ động cho nhà trường trong việc tuyển dụng chuyên gia, nghệ nhân, huấn luyện viên giỏi; tinh gọn bộ máy hành chính để tối ưu hóa chi tiêu nội bộ.
- Điều kiện thực hiện: Nâng cao nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VHTTDL, Bộ Tài chính, Bộ GDĐT); xây dựng lộ trình giao quyền tự chủ theo năng lực quản lý và xếp loại chất lượng của từng trường; tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ và trách nhiệm giải trình xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về tự chủ tài chính trong giáo dục đại học, đặt trong bối cảnh đặc thù của các cơ sở đào tạo nghệ thuật và thể dục thể thao công lập.
- Phân tích và làm rõ các nhân tố tác động đến cơ chế tự chủ tài chính của các trường NT-TDTT (mục tiêu phát triển GDĐH, khung chính sách tài chính của Nhà nước và năng lực quản trị tài chính nội bộ của nhà trường).
- Đề xuất hệ thống 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế này tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo công lập đặc thù.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng tài chính, nguồn thu, cơ cấu chi tiêu và quản lý tài sản tại các cơ sở đào tạo NT-TDTT trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2011–2019 (kèm hệ thống dữ liệu qua các bảng số liệu 3.1 đến 3.10).
- Phân tích định lượng kết quả điều tra từ 294 phiếu khảo sát (84 cán bộ quản lý và 210 viên chức/người lao động) về mức độ nhận thức, việc thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ ($K_1, K_2$) và tác động thực tế của cơ chế tự chủ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao nhằm đổi mới cơ chế học phí, chuyển đổi phương thức phân bổ ngân sách nhà nước theo cơ chế đặt hàng tính đúng tính đủ, hoàn thiện chính sách hỗ trợ người học năng khiếu và nâng cao năng lực quản trị nội bộ cho các trường NT-TDTT đến năm 2025.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát thực địa chủ yếu tại 15/21 trường và thu thập số liệu trên 21 cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại 3 trung tâm lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng); chưa mở rộng khảo sát sâu các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể thao do các địa phương hoặc các bộ ngành khác quản lý. Dữ liệu tài chính phân tích chuyên sâu tập trung trong giai đoạn 2011–2019 và cập nhật chính sách đến năm 2023.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát đối với toàn bộ các trường đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao công lập thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố quản lý; nghiên cứu thực chứng tác động toàn diện của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP trong giai đoạn hậu đại dịch; phân tích sâu hơn về phương pháp định giá dịch vụ công và định mức kinh tế - kỹ thuật trong đào tạo năng khiếu đặc thù.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo thực tiễn cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng cơ chế đặt hàng, định mức kinh tế - kỹ thuật và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp khối văn hóa, nghệ thuật, thể thao.
- Đối với các cơ sở đào tạo NT-TDTT: Cung cấp cơ sở khoa học để ban giám hiệu các trường hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng hệ số phân phối thu nhập ($K_1, K_2$), quản lý tài sản công và lập phương án tự chủ tài chính theo các cấp độ quy định.
- Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống, lý thuyết phụ thuộc tài nguyên và bộ tài liệu tham khảo phong phú về quản lý kinh tế trong giáo dục đại học chuyên ngành đặc thù.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao các trường đào tạo nghệ thuật, thể dục thể thao công lập gặp khó khăn lớn khi thực hiện tự chủ tài chính so với khối trường kinh tế, luật?
Khác với khối ngành kinh tế hay luật có thể mở rộng quy mô lớp học đông để tối ưu hóa học phí, các trường NT-TDTT có đặc thù đào tạo năng khiếu cá nhân (quy mô lớp rất nhỏ, nhiều môn nghệ thuật dạy 1 kèm 1), chi phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị biểu diễn, tập luyện chuyên dụng rất lớn. Do bị áp mức trần học phí theo quy định chung của Nhà nước và quy mô tuyển sinh hẹp, nguồn thu ngoài ngân sách của khối trường này rất nhỏ, không đủ bù đắp chi phí vận hành nếu Nhà nước cắt giảm ngân sách cấp trực tiếp.
2. Dữ liệu khảo sát thực tế của luận án được thực hiện trên quy mô và đối tượng nào?
Khảo sát thực địa được thực hiện thông qua 2 mẫu phiếu điều tra gửi tới 21 cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
- Mẫu số 01: 84 phiếu dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng chuyên môn, cán bộ tài chính, cán bộ văn phòng; 4 người/đơn vị).
- Mẫu số 02: 210 phiếu dành cho viên chức, giảng viên và người lao động (10 người/đơn vị).
Tổng cộng có 294 phiếu điều tra được phân tích.
3. Khung lý thuyết chính được luận án sử dụng để phân tích cơ chế tự chủ tài chính là gì?
Luận án sử dụng Lý thuyết hệ thống (System Theory) của Ludwig von Bertalanffy làm hướng tiếp cận chủ đạo, kết hợp với Lý thuyết dự phòng (Contingency Theory), Lý thuyết chủ thể - đại diện (Principal-Agent Theory), Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (Resource Dependence Theory) của Pfeffer & Salancik, cùng mô hình phát triển tài chính đại học đa chiều của Arthur Hauptman và khung so sánh quản lý tài chính của John Fielden.
4. Luận án đề xuất đổi mới phương thức phân bổ ngân sách nhà nước cho các trường NT-TDTT như thế nào?
Luận án kiến nghị Nhà nước cần chuyển đổi căn bản từ phương thức cấp phát ngân sách theo dự toán đầu vào và biên chế hành chính sang cơ chế Nhà nước đặt hàng và giao nhiệm vụ đào tạo. Mức kinh phí đặt hàng phải được xây dựng dựa trên định mức kinh tế - kỹ thuật đặc thù của khối ngành nghệ thuật và thể thao, bảo đảm tính đúng, tính đủ mọi chi phí đào tạo thực tế phát sinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Kiều Duyên (2023) là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật và thể dục thể thao công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bằng việc kết hợp lý thuyết hệ thống, lý thuyết phụ thuộc tài nguyên với các phương pháp phân tích tài chính và điều tra khảo sát thực chứng, luận án đã làm rõ những bất cập về cơ cấu nguồn thu, mức độ tự chủ chi tiêu và quản lý tài sản công trong giai đoạn 2011–2019. Các giải pháp đề xuất về đổi mới cơ chế học phí đặc thù, phân bổ ngân sách theo cơ chế đặt hàng tính đúng tính đủ và hoàn thiện quản trị nội bộ có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách giáo dục đại học và quản lý kinh tế tại Việt Nam.