CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất.1 Bản chất chi phí sản xuất. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất đều phải tiêu tốn những nguồn lực nhất định. Đó là sự kết hợp hài hòa ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Sự tiêu hao này trong quá trình sản xuất tạo ra các chi phí tương ứng, nhưng mức độ hao mòn của chúng rất khác nhau, vì vậy để biết được số chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong một kỳ kế toán nào đó là bao nhiêu, phải sử dụng thước đo tiền tệ để đo lường mức độ hao phí các nguồn lực và điều này đã làm phát sinh khái niệm chi phí.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Theo như Tiến sĩ Huỳnh Lợi (2010): “Nhận thức chi phí có thể khác nhau về quan điểm, góc độ, hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. Đây chính là bản chất kinh tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí luôn được gắn liền với các hoạt động làm phát sinh chi phí cho hoạt động sản xuất, phát sinh thường xuyên, liên tục trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Nhưng không phải mọi chi phí doanh nghiệp đã chi ra đều là chi phí sản xuất như: chi phí hao hụt nguyên vật liệu ngoài định mức, tiền bị phạt do vi phạm hợp đồng,… 2 1.2 Phân loại chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất có rất nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí,… trong quá trình sản xuất. Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này người ta sắp xếp chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào. o Chi phí nguyên liệu và vật liệu: Bao gồm giá mua, chi phí mua nguyên vật liệu dùng cho hoạt động sản xuất trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác. o Chi phí nhân công: Là các khoản về tiền lương phải trả cho người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tiền lương của người lao động.
o Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: Bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp. o Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như tiền điện, nước, tiền bưu phí,… o Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí trên. Phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí trong tổng chi phí của toàn doanh nghiệp, giúp cho việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp sản xuất và công dụng kinh tế của chi phí thì chi phí sản xuất được chia thành: o Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm. 3 o Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất. o Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vy phân xưởng, đội sản xuất. Bao gồm các yếu tố chi phí: nhân viên phân xưởng, vật liệu, dụng cụ, khấu hao TSCĐ, dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền.
Phân loại chi phí sản xuất sản xuất theo khả năng quy nạp vào các đối tượng kế toán chi phí. o Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí. Như phần lớn chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp là chi phí trực tiếp. o Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí không thể tập hợp trực tiếp được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh sau đó phân bổ gián tiếp cho từng đối tượng chi phí, như chi phí sản xuất chung.2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm.1 Bản chất giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất, hoàn thành một khối lượng sản phẩm nhất định. Giá thành sản phẩm được xác định cho từng loại sản phẩm, dịch vụ cụ thể và chỉ tính toán với số lượng sản phẩm, kết thúc toàn bộ quá trình sản xuất (thành phẩm) hay hoàn thành một số giai đoạn công nghệ sản xuất (bán thành phẩm).2 Phân loại giá thành sản xuất. Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý và hạch toán, giá thành sản phẩm được phân chia làm nhiều loại khác nhau, tùy theo tiêu thức phân loại để tính loại giá thành. Phân loại theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành.
Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm được chia làm ba loại: Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của 4 doanh nghiệp thực hiện và được xác định trước khi bước vào sản xuất kinh doanh. Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp. Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ sở xác định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm.
Việc tính giá thành định mức được tính trước khi chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo để xác định chính xác kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp cho doanh nghiệp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kỹ thuật đã thực hiện, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh, tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm.
Giá thành thực tế là căn cứ quan trọng để định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất. Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí. Giá thành sản xuất sản phẩm: Bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm đã sản xuất hoàn thành. Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất tính cho sản phẩm tiêu thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ tính cho sản phẩm này.
Trong giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ có thể chia thành: Giá thành toàn bộ sản phẩm: Bao gồm toàn bộ chi phí cố định và chi phí biến đổi mà doanh nghiệp đã sử dụng phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ. Giá thành sản phẩm theo biến phí: Chỉ bao gồm chi phí biến đổi trực tiếp và chi phí biến đổi gián tiếp. Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định: Bao gồm toàn bộ chi phí biến đổi và một phần chi phí cố định được xác định trên cơ sở mức độ hoạt động thực tế so với định mức hoạt động tiêu chuẩn.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ, cơ sở để tính giá thành sản phẩm đã hoàn thành, sự tiết kiệm hay lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay hạ giá thành sản phẩm. Xét về mặt bản chất: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau vì chúng đều là các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và chi phí khác của doanh nghiệp bỏ ra được biểu hiện bằng tiền. Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có sự khác nhau trên các phương diện sau: Về mặt phạm vi: Chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm cả chi phí cho sản xuất sản phẩm và cả cho chi phí quản lý doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm. Còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm chi phí sản xuất sản phẩm (chi phí sản xuất trực tiếp và chi phí sản xuất chung).
Mặt khác, chi phí sản xuất chung chỉ tính những chi phí phát sinh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) không tính đến chi phí liên quan đến số sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Còn nói đến giá thành là giới hạn số chi phí sản xuất liên quan đến khối lượng sản phẩm đã hoàn thành.