Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. - Chương 2: Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Lâm Quang. - Chương 3: Một số nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Lâm Quang. SVTH: Nguyễn Minh Thư 2 MSSV: 1054030554 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths.
Nguyễn Lan Hương CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM. Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về các lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Chi phí sản xuất là cơ sở cấu thành nên giá thành sản xuất của sản phẩm sản xuất ra, phát sinh thường xuyên trong quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp. Để phục vụ cho yêu cầu quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán và tập hợp theo từng thời kỳ (tháng, quý, năm) cho phù hợp với kỳ báo cáo. Trong doanh nghiệp sản xuất có nhiều chi phí khác nhau, tham gia vào quá trình sản xuất dưới những hình thức khác nhau. Do đó, để có thể quản lý chặt chẽ giá thành sản xuất thì trước tiên phải quản lý tốt các chi phí sản xuất, kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện định mức ở từng bộ phận sản xuất.
Vì vậy, tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, người ta tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức thích hợp. Phân loại chi phí theo lĩnh vực hoạt động. Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí được chính xác, phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả của từng hoạt động kinh doanh đúng đắn, giúp cho việc lập báo cáo tài chính nhanh, chính xác và kịp thời. Theo cách phân loại này, chi phí được chia làm 3 loại: - Chi phí sản xuất kinh doanh: gồm những chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ, quản lý hành chính và quản trị kinh doanh.
- Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư về tài chính. - Chi phí bất thường: gồm những chi phí ngoài dự kiến, có thể do chủ quan hoặc khách quan mang lại. SVTH: Nguyễn Minh Thư 3 MSSV: 1054030554 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Lan Hương Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế.
Việc phân loại chi phí theo nội dung kinh tế cho biết kết cấu, tỷ trọng từng yếu tố sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán, là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư, tiền lương, khấu hao…giúp cho công tác quản lý chi phí sản xuất nhanh chóng và chính xác. Theo cách này, chi phí được chia thành: - Chi phí NVL: gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, CCDC… - Chi phí nhân công: gồm chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương, các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương trong kỳ báo cáo trước khi trừ các khoản giảm trừ. - Chi phí khấu hao TSCĐ: gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao trong kỳ của các loại TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các khoản chi về điện, nước, điện thoại, hoa hồng đại lý, quảng cáo, sửa chữa TSCĐ và các dịch vụ mua ngoài khác.
- Chi phí khác bằng tiền: gồm toàn bộ số tiền chi cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp ngoài các khoản trên. Phân loại chi phí theo khoản mục tính giá thành. Phân loại theo cách này giúp phục vụ cho việc quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, lập kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau. Theo cách này, chi phí được chia thành 4 khoản mục: - Chi phí NVL trực tiếp: gồm các khoản chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm… - Chi phí nhân công trực tiếp: gồm các khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp tham gia sản xuất sản phẩm như tiền lương và các khoản trích theo lương.
- Chi phí sử dụng máy thi công: gồm các khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra liên quan tới việc sử dụng máy thi công phục vụ cho vận chuyển, phục vụ công trình như tiền khấu hao máy móc thiết bị, tiền thuê máy, lương công nhân điều chỉnh máy, chi phí nhiên liệu dùng cho máy thi công… - Chi phí sản xuất chung: gồm những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng như tiền lương, phụ cấp cho nhân viên phân xưởng, chi phí CCDC xuất dùng cho phân xưởng và bộ phận sản xuất… SVTH: Nguyễn Minh Thư 4 MSSV: 1054030554 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Lan Hương Phân loại chi phí sản xuất theo sự biến động chi phí. Cách phân loại này giúp nhà quản trị nắm được mô hình chi phí - sản lượng - lợi nhuận để xác định điểm hòa vốn, nhằm đưa ra giải pháp tối ưu trong kinh doanh, nâng cao hiệu quả chi phí, làm hạ giá thành sản phẩm. Theo cách này, chi phí được phân thành: - Chi phí cố định (chi phí bất biến, định phí): là loại chi phí không thay đổi theo cùng sản lượng.
- Chi phí biến đổi (chi phí khả biến, biến phí): là loại chi phí thay đổi theo sản lượng. - Chi phí hỗn hợp: bao gồm cả chi phí cố định và chi phí biến đổi. Giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp xác định giá bán sản phẩm của mình. Chỉ tiêu giá thành sản phẩm phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, cũng như tính đúng đắn của các giải pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm hạ thấp chi phí và nâng cao lợi nhuận. Phân loại giá thành theo thời gian cơ sở số liệu để tính giá thành. Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát CP, xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ kế toán.
Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp. Theo cách này, giá thành được phân thành: - Giá thành kế hoạch: được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và số lượng kế hoạch. Việc tính toán giá thành kế hoạch được tiến hành trước khi thực hiện sản xuất, chế tạo sản phẩm. Chỉ tiêu này được xem là mục tiêu phấn đấu, là cơ sở để đánh giá, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: được tính trên cơ sở các định mức CP hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Việc tính giá thành định mức được tính trước khi sản xuất, chế tạo SVTH: Nguyễn Minh Thư 5 MSSV: 1054030554 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Lan Hương sản phẩm. Giá thành định mức là thước đo chính xác kết quả kinh doanh các loại tài sản trong doanh nghiệp.
Đó là căn cứ quản lý quan trọng, tạo cơ sở cho việc đánh giá tính hợp lý, hiệu quả của giải pháp kinh tế kỹ thuật đã được áp dụng. - Giá thành thực tế: được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ với số lượng thực tế sản xuất được. Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế chỉ được tính toán sau khi quá trình SX đã hoàn thành. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán chi phí.
Cách phân loại này giúp nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Tuy nhiên, do hạn chế nhất định nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu, ít được áp dụng. Theo cách phân loại này, giá thành được phân thành: - Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. - Giá thành toàn bộ: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí liên quan đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + CP bán hàng + CP quản lý doanh nghiệp. Mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Giữa CPSX và GTSP có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chi phí thể hiện mặt hao phí còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất. Xét về mặt chất thì chi phí và giá thành sản phẩm giống nhau, nhưng xét về mặt lượng thì chúng khác nhau ở một vài điểm.Mối liên hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu giống nhau về chất, đều là hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất Giá thành sản phẩm - Luôn gắn với kỳ hoạt động sản xuất kinh - Luôn gắn liền với khối lượng sản phẩm, doanh của doanh nghiệp. dịch vụ đã hoàn thành. - Không những bao gồm chi phí sản xuất - Không bao gồm CPSX của những sản của những sản phẩm đã hoàn thành trong phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng, kỳ này, mà còn bao gồm cả chi phí sản chỉ bao gồm CPSX của sản phẩm đã hoàn xuất của những sản phẩm dở dang cuối kỳ thành trong kỳ và chi phí sản xuất của sản và sản phẩm hỏng.
phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang. SVTH: Nguyễn Minh Thư 6 MSSV: 1054030554 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Lan Hương 1. Nhiệm vụ của kế toán CPSX và giá thành sản phẩm.