Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội và chế độ tử tuất 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Trƣớc khi nói về khái niệm chế độ tử tuất, thì trƣớc hết ta cần hiểu sơ lƣợc về khái niệm BHXH nói chung, bởi chế độ tử tuất chính là một phần trong các chế độ của BHXH Việt Nam. Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới cho thấy, muốn phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội.
Không một quốc gia nào trên thế giới lại không coi chính sách an sinh xã hội là một chính sách xã hội quan trọng mà trong đó, BHXH là một trụ cột không thể thiếu. Vai trò của BHXH đƣợc thể hiện ở việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trƣờng hợp nguồn thu nhập bình thƣờng của ngƣời lao động bị gián đoạn hoặc bị mất đi do các nguyên nhân mang tính xã hội nhƣ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động… Không những góp phần giảm bớt sự mất mát về tiền đối với cá nhân ngƣời lao động bằng cách chuyển đổi nguy cơ tổn thất tài chính gây ra bởi các rủi ro mang tính xã hội thành các khoản đóng góp nhỏ mà BHXH còn góp phần bảo vệ gia đình họ trƣớc nguy cơ phải tiêu tốn các khoản tiền lớn hơn thu nhập của họ cho các chi phí phát sinh khác. BHXH là lĩnh vực đƣợc rất nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, nên BHXH đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau: Dƣới góc độ kinh tế, BHXH là một phạm trù kinh tế tổng hợp, đƣợc coi là sự bù đắp và thay thế phần thu nhập đảm bảo ổn định cuộc sống cho ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập trên cơ sở thành lập và sử dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những ngƣời tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Trong quá trình lao động, đặc biệt là trong nền kinh tế thị 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng, ngƣời lao động luôn gặp phải những khó khăn, rủi ro nhƣ: tai nạn lao động, ốm đau, bệnh tật, mất việc làm, thất nghiệp.
Để ổn định cuộc sống ngƣời lao động phải tìm đến các biện pháp đảm bảo thu nhập cho chính mình trong những trƣởng hợp rủi ro nói trên. Ngƣời lao động đóng góp một khoản tiền vào nguồn quỹ chung (gọi là quỹ BHXH), khi họ “gặp rủi ro” bị mất hoặc giảm thu nhập thì quỹ BHXH thực hiện chức năng hỗ trợ bù đắp phần thu nhập đó cho ngƣời lao động, nhằm giúp họ ổn định cuộc sống [19]. Dƣới góc độ xã hội, BHXH là một bộ phận trong nội dung của hệ thống bảo đảm xã hội. Hay nói cách khác, BHXH là một thành tố nằm trong các biện pháp để đảm bảo “sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngƣng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và việc trợ cấp cho các gia đình đông con” [14].
Dƣới góc độ pháp luật, BHXH là tổng hợp các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ ngƣời lao động; sử dụng nguồn đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nƣớc nhằm trợ cấp vật chất cho ngƣời đƣợc bảo hiểm (hoặc gia đình của họ) trong trƣờng hợp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết. Nhƣ vậy, về phƣơng diện pháp lý, BHXH là tổng thể các quy định của Nhà nƣớc quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên khi tham gia vào quan hệ BHXH; mức đóng góp, phƣơng thức đóng góp và mức hƣởng đối với những đối tƣợng áp dụng BHXH. Tuy nhiên, dù tiếp cận dƣới góc độ nào thì mục tiêu chính của BHXH cũng đƣợc thể hiện rõ, nhằm bảo vệ ngƣời lao động trƣớc những biến cố cuộc sống và đƣợc bảo vệ bằng hệ thống các chính sách. Hiện nay, có một số định nghĩa về BHXH đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế, BHXH là sự bảo vệ của xã 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng, nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con 17].
Theo định nghĩa này có thể thấy rằng, cách tiếp cận về BHXH của Tổ chức Lao động quốc tế có điểm tƣơng đồng với cách nhìn nhận dƣới góc độ xã hội đã đề cập ở trên, coi BHXH là một trong các biện pháp trong hệ thống an sinh xã hội của nhà nƣớc. Tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ đề cập khái niệm BHXH ở phƣơng diện biện pháp đảm bảo từ phía nhà nƣớc, mang nặng tính trợ cấp, mà chƣa đề cập đến sự đóng góp mang tính “tích lũy” từ phía ngƣời lao động. Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ: BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nƣớc theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội 14]. Trong Luật BHXH đƣa ra khái niệm BHXH, khái niệm này thể hiện rõ mục đích phi thƣơng mại và có sự bảo hộ của nhà nƣớc thông qua quá trình đóng góp và quản lý quỹ BHXH, thông qua đó Nhà nƣớc bảo hộ các hoạt động của quỹ BHXH và nhằm mục đích bảo đảm an toàn xã hội và tạo động lực hữu hiệu để phát triển kinh tế.
Có thể nói rằng, đây là khái niệm tƣơng đối đầy đủ về BHXH: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH 22. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở khái niệm về BHXH, có thể thấy rằng, đối tƣợng đƣợc nhà nƣớc bảo hộ chính là thu nhập của ngƣời lao động. Khi thu nhập của ngƣời lao động và gia đình của họ bị mất hoặc giảm vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già thì BHXH bù đắp các khoản thu nhập bị thiếu hụt thông qua việc thực hiện chi trả trợ cấp đối với ngƣời lao động hoặc gia đình của họ thay cho phần thu nhập bị giảm hoặc bị mất đó. Luật Bảo hiểm xã hội quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của ngƣời lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội; tổ chức bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nƣớc về bảo hiểm xã hội.
Luật BHXH quy định các loại hình, chế độ bảo hiểm sau: Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà nhà nƣớc bắt buộc ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia. Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm 5 chế độ cơ bản: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hƣu trí và tử tuất. Loại hình Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do nhà nƣớc tổ chức mà ngƣời tham gia đƣợc lựa chọn mức đóng, phƣơng thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và nhà nƣớc có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để ngƣời tham gia đƣợc hƣởng chế độ hƣu trí và tử tuất. Về mức đóng BHXH, hai loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có phƣơng thức đóng và mức đóng là khác nhau, cụ thể: Với loại hình BHXH bắt buộc thì Luật BHXH quy định: - Ngƣời lao động là ngƣời làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dƣới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động đƣợc ký kết giữa ngƣời sử dụng lao động với ngƣời đại diện theo pháp luật của ngƣời dƣới 15 tuổi theo quy định 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của pháp luật về lao động; Ngƣời làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dƣới 03 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an, ngƣời làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; ngƣời làm công tác cơ yếu hƣởng lƣơng nhƣ đối với quân nhân; Ngƣời quản lý doanh nghiệp, ngƣời quản lý điều hành hợp tác xã có hƣởng tiền lƣơng: hằng tháng đóng bằng 8% mức tiền lƣơng tháng vào quỹ hƣu trí và tử tuất.
Ngƣời sử dụng lao động hằng tháng đóng 18% trên quỹ tiền lƣơng đóng BHXH của ngƣời lao động vào quỹ BHXH (trong đó 3% đóng vào quỹ ốm đau và thai sản, 1% đóng vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, 14% đóng vào quỹ hƣu trí và tử tuất). - Ngƣời lao động là ngƣời hoạt động không chuyên trách ở xã, phƣờng, thị trấn: hằng tháng đóng 8% mức lƣơng cơ sở vào quỹ hƣu trí và tử tuất. Ngƣời sử dụng lao động đóng 14% mức lƣơng cơ sở vào quỹ hƣu trí và tử tuất cho ngƣời lao động.