Chương 1: Khái quát về tiền lương và sự điều chỉnh của pháp luật về tiền lương Chương 2: Thực trạng áp dụng tiền lương trong doanh nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huế và một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về tiền lương. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƢƠNG 1.1 Khái quát tiền lƣơng 1. quá trình hình thành và phát triển của tiền lƣơng ở Việt Nam. Từ ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đời sống nhân dân, đặc biệt là công nhân viên chức và người lao động làm việc trong các doanh nghiệp.
Nhà nước ta luôn cải cách chính sách tiền lương cho phù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội. quá trình hình thành và phát triển tiền lương ở Việt Nam được thể hiện như sau: Những ngày đầu thành lập nước, chưa có doanh nghiệp Nhà nước chỉ có một số doanh nghiệp trưng thu của chế độ cũ để lại. Tiền lương giai đoạn này vẫn theo tiền lương và phụ cấp của chế độ cũ để lại. Đến tháng 7-1946, Sắc lệnh số 133/SL ấn định lương tối thiểu của công chức các ngành (mỗi tháng 150 đồng = 15kg gạo cho Hà Nội và 130 đồng = 13 kg gạo cho Hải Phòng và các tỉnh khác có phụ cấp bổ túc gạo đắt cho bản thân, vợ và đến con thứ tư.
Đến tháng 2/1947 lương tối thiểu nâng lên 180 đồng và lương tối đa là 600 đồng). Tháng 5/1948 chế độ công chức mới được ban hành có một thang lương với 5 ngạch công chức, đến tháng 2/1950 lương tối thiểu được nâng lên từ 220 đồng đến 250 đồng. Từ năm 1950 chiến sự còn lan rộng, giá sinh hoạt mỗi nơi mỗi khác, giá trị thực tế của đồng tiền giảm. Tháng 5/1950 Sắc lệnh 77/SL quy định công nhân giúp việc của Chính phủ áp dụng thang lương chung 18 bậc.
Sắc lệnh số 98/SL ấn định lương và phụ cấp hằng tháng theo giá gạo. Tháng 12/1955, Nghị định 650/TTg quy định chế độ tiền lương mới, thực hiện trả lương bằng tiền thêm cung cấp nhà ở, giường, chiếu, điện, nước, quy định thang lương 17 bậc có bậc riêng cho cán bộ dân cử, thang lương 11 bậc cho các bộ nhân viên kỷ thuật nhà nước, thang lương 8 bậc cho cơ quan xí nghiệp nhà nước, thang lương 6 bậc cho lao động phổ thông xí nghiệp. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những năm 1960 Đảng và Nhà nước tập trung tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa. Ban chấp hành trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 13 đã quyết định vấn đề cải cách tiền lương.
Thang lương công nhân cơ khí 8 bậc làm cơ sở xây dựng thang lương các nghề khác.Tháng 7/1960 Chính phủ ra nghị định 25/CP về chế độ lương khu vực sản xuất gồm 7 thang lương. Sau tháng 4/1975 nước nhà được thống nhất nhưng do hậu quả nặng nề của chiến tranh, phải tổ chức lại nền kinh tế, chính sách tiền lương lúc này còn bao cấp và mất ý nghĩa là đòn bẩy kích thích và bù đắp. Năm 1985 Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 8 khóa 5, Nghị định 235/HĐBT ban hành hệ thống tiền lương mới. Lương tối thiểu ấn định là 220 đồng/tháng, bội số lương hành chính là 3,5.
Hệ số lương trong các ngành sản xuất so với lương tối thiểu là 1.6 có 5 thang lương và 15 bảng lương. Từ năm 1986 Nhà nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đã phải chuyển mức lương lên 102,275% so với năm 1985, các xí nghiệp Nhà nước tự chi trả tiền lương, ngân sách Nhà nước không bao cấp. Tháng 5/1993 Ban bí thư trung ương Đảng ra quyết định số 69/QĐTW đề án cải cách tiền lương, Chính phủ đã ban hành các Nghị định 25/Chính phủ, 26/Chính phủ về quy định tạm thời chế độ tiền lương mới. Mức lương tối thiểu là 120 nghìn đồng /tháng, bội số là 10, trong đó bảng lương thì so với lương tối thiểu, bảng lương công chức từ 1 đến 8.5, bảng lương doanh nghiệp từ 1 đến 7.
Trước sự thay đổi của nền kinh tế khu vực và thế giới, để phù hợp với điều kiện đó năm 1994 Bộ luật lao động ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho các bên khi quan hệ lao động, đặc biệt là về tiền lương. Đến nay Bộ luật đó đã qua hai lần sửa đổi và bổ sung vào năm 2002 và 2006 để phù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó các cơ quan Nhà nước đã ban hành những Nghị định, Thông tư để điều chỉnh về chế độ tiền lương. Qua quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tiền lương và thực tiển áp dụng, pháp luật tiền lương ở Việt Nam có những ưu điểm và hạn chế sau.
Về mặt ưu điểm: Tiền lương là cơ sở để bảo vệ người lao động trước sức ép của cơ chế thị trường. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiền lương là cơ sở để nhà nước có có chính sách điều tiết thu nhập. Bên cạnh đố pháp luật tiền lương là hành lang pháp lí để các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Về mặt hạn chế: Chính sách tiền lương chưa thực sự theo kịp sự phát triển của các quan hệ lao động phong phú và đa dạng trong nền kinh tế thi trường hiện nay.
Chính sách tiền lương áp dụng đối với một số nghề, một số vùng chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tế. Tóm lại, sự hình thành và phát triển của pháp luật về tiền lương là một quá trình thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện, thể hiện chính sách của Đảng và nhà nước đối với chính sách tiền lương để bảo vệ người lao động. Với sự phát triển của pháp luật tiền lương, chúng ta đã thấy được rằng chính sách tiền lương luôn thay đổi để đáp ứng được tình hình thực tế, sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, pháp luật tiền lương luôn thay đổi để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể đặc biệt là việc mở rộng thang lương, bảng lương có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống của nhân dân.
Khái niệm tiền lƣơng Tiền lương không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan đến trực tiếp cuộc sống của người lao động. Thuật ngữ tiền lương đã được nhiều tạp chí đề cập đến. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tiền lương: - Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO đã có quan điểm về tiền lương “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm (Điều 1- Công ước số 45 năm 1949). Bên cạnh đó tiền lương còn được tiếp cận dưới phương diện về kinh tế, xã hội và phương diện về pháp lý.
- Dưới góc độ kinh tế: Với sự thừa nhận sức lao động là hàng hóa, có thể hiểu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động trả cho người lao động. Như vậy, tiền lương về thực chất là tiền trả cho việc thuê mướn sức lao động, là một trong các yếu tố đầu vào của sản xuất,cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiền lương vừa là chi phí trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa là lợi ích kinh tế, thu nhập của người lao động. - Dưới góc độ xã hội: Tiền lương là mục đích là động cơ chủ yếu để người lao động tham gia quan hệ lao động, bên cạnh đó tiền lương là một vấn đề nhạy cảm của quan hệ lao động và sự thống nhất, ổn định bền vững của quan hệ lao động, đảm bảo được cuộc sống ổn định, ấm no của người lao động.
- Dưới góc độ pháp lý: Tiền lương là số tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động trên cơ sở năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Theo Điều 55 Bộ luật lao động năm 1994 quy định “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suât lao động và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao độmg không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”. Có thể nói khái niệm tiền lương dưới phương diện pháp lý mang những đặc trưng cơ bản sau: - Thứ nhất, về chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật về tiền lương.
Chủ thể tham gia bao gồm: Người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó người sử dụng lao động là người trả lương cho người lao động, còn người lao động thông qua việc bán sức lao động của mình họ sẽ được nhận giá trị tiền tệ trên cơ sở lao động bỏ ra. - Thứ hai, về điều kiện trả lương. Điều kiện để người sử dụng lao động trả lương cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo pháp luật quy định.
- Thứ ba, về căn cứ trả lương cho người lao động. Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận, khi người sử dụng lao động trả lương cho họ cần phải căn cứ vào: Năng suất, chất lượng và hiệu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quả công việc được giao, ngoài tiền lương cũng phụ thuộc vào khu vực làm việc và tính chất công việc mà người lao động thực hiện. Khi trả lương cũng căn cứ vào quy định của pháp luật, đó là tiền lương tối thiểu, các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương. - Thư tư, về bản chất của tiền lương.