phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 3 phần: Chƣơng 1: Những lý luận cơ bản về chất lƣợng tín dụng trong cho vay HSSVtại Ngân hàng chính sách xã hội Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng trong cho vay HSSVtại Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh Thành phố Hà Nội Chƣơng 3:Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng trong cho vay HSSV tại Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh Thành phố Hà Nội” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỌC SINH, SINH VIÊN TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Hoạt động Cho vay học sinh, sinh viên của NHCSXH 1. NHCSXH và vai trò của NHCSXH 1. Khái niệm NHCSXH Trên thế giới, “nhiều quốc gia có NHCSXH, nhƣng nhận thức về mô hình Ngân hàng tham gia thực hiện chính sách xã hội có nhiều quan điểm khác nhau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng: Để có thể chuyển tải vốn tới các đối tƣợng thụ hƣởng chính sách xã hội phải là một loại hình ngân hàng chính sách của Chính phủ đƣợc thành lập chỉ để thực hiện các chính sách tín dụng ƣu đãi dành riêng cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Để có thể chuyển tải vốn tới các đối tƣợng thụ hƣởng chính sách xã hội, Chính phủ có thể thông qua hệ thống NHTM thuộc sở hữu Nhà nƣớc để thực hiện các chƣơng trình tín dụng chỉ định của Chính phủ. - Quan điểm thứ ba cho rằng: Ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách xã hội khác không nhất thiết phải đƣợc hƣởng ƣu đãi về lãi suất mà điều cần thiết đối với họ chính là đƣợc ƣu đãi về các điều kiện vay vốn khác. Do đó, theo họ có thể thành lập NHTM cổ phần để cho vay đối với ngƣời nghèo với lãi suất hoàn toàn theo cơ chế thị trƣờng (Ngân hàng Grameen ở Bangladesh). Các quan điểm về mô hình Ngân hàng tham gia thực hiện chính sách xã hội trên đây có khác nhau và sự vận dụng chúng có hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào việc chúng có phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nƣớc.
Trong xu thế phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trƣờng, ở mỗi quốc gia đều nảy sinh tình trạng có những ngành hàng, những khu vực kinh tế, những đối tƣợng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện tiếp cận với dịch vụ của các NHTM. Ví dụ, các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, vùng sâu, vùng xa địa hình khó khăn hiểm trở, bị chia cắt, điều kiện khí hậu tự nhiên khắc nghiệt…, chịu chi phí lớn, rủi ro cao, hơn nữa đòi hỏi vốn đầu tƣ lớn thời gian dài, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận. Tuy nhiên, những ngành hàng, những khu vực kinh tế và những đối tƣợng khách hàng này không thể bị bỏ rơi, nó buộc phải có sự hỗ trợ của Chính phủ để tồn tại và phát triển bởi tính xã hội của nó: nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế cân bằng giữa các vùng, miền, giữa các thành phần, đảm bảo sự chênh lệch giàu nghèo không quá lớn và nhằm giải quyết các mục tiêu chính trị - xã hội. Để giảm thiểu những mặt trái khuyết tật của cơ chế thị trƣờng và giải quyết các mục tiêu nêu trên, Chính phủ đã sử dụng công cụ tín dụng chính sách.
(Nguyễn Minh Kiều, 2013) Nhƣ vậy, tín dụng chính sách là các khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủ. Đây là việc cho vay có tính chất phi thƣơng mại đối với các hoạt động bán tài chính không đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện tiêu chí thƣơng mại, nhƣng lại có tác động xã hội chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Tùy điều kiện và nhu cầu của mỗi quốc gia, Chính phủ thiết lập các kênh tín dụng hoặc thiết lập các Ngân hàng chuyên biệt để: - Cho vay các khu vực kinh tế ƣu tiên; - Cho vay các ngành kinh tế có tính chất chiến lƣợc; - Cho vay các công trình có tính khả thi về tài chính nhƣng đòi hỏi vốn lớn, thời gian dài (công trình cơ sở hạ tầng, đƣờng xá…); - Cho vay xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn và các khu vực xã hội. Các ngân hàng đƣợc thiết lập để thực hiện các chƣơng trình tín dụng chính sách của Chính phủ đƣợc gọi là Ngân hàng Chính sách.
Ngân hàng Chính sách đƣợc chia làm 2 loại: - Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách phát triển đƣợc gọi là Ngân hàng Phát triển. - Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội đƣợc gọi là Ngân hàng Chính sách xã hội. Từ những phân tích trên đây có thể đƣa ra khái niệm chung nhất về NHCSXH là loại hình Ngân hàng chuyên biệt đƣợc các Chính phủ thiết lập nhằm cung cấp các khoản cho vay ƣu đãi đối với các đối tƣợng khách hàng, ngành nghề, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 khu vực kinh tế đƣợc đặc biệt quan tâm. Các hoạt động cơ bản của NHCSXH NHCSXH là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống; tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng của mình trƣớc pháp luật; thực hiện bảo tồn và phát triển vốn; bù đắp chi phí và rủi ro hoạt động tín dụng.
NHCSXH không tham gia bảo hiểm tiền gửi, có tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, đƣợc miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nƣớc. NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ƣu đãi, mục tiêu chủ yếu là xoá đói giảm nghèo. Các mức lãi suất ƣu đãi do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ, những tổn thất trong cho vay sau khi bù đắp bằng quỹ dự phòng, chi phí hoạt động của NHCSXH sẽ đƣợc Bộ Tài chính cấp. Nhƣ vậy đây là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng (huy động và cho vay) song dựa vào nguồn chi ngân sách hàng năm, tức là Nhà nƣớc thực hiện bao cấp một phần cho hoạt động của NHCSXH.
(Nguyễn Minh Kiều, 2013) Hoạt động của NHCSXH bao gồm các hoạt động chính nhƣ sau: a. Hoạt động huy động vốn Xuất phát từ tính chất các món vay mà ngân hàng cung ứng có tỷ lệ sinh lời thấp (cho vay xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển vùng khó khăn…), thời gian dài, rủi ro cao nên để đảm bảo cho hoạt động bền vững của ngân hàng, nguồn vốn huy động của NHCSXH có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm: Vốn do Ngân sách Nhà nƣớc cấp Nguồn vốn của NHCSXH đƣợc tạo lập chủ yếu từ nguồn ngân sách Nhà nƣớc dƣới các hình thức nhƣ: - Cấp vốn điều lệ: nhà nƣớc thể hiện vai trò chủ sở hữu bằng việc cấp vốn điều lệ cho NHCSXH. Vốn điều lệ đƣợc cấp lần đầu khi ngân hàng mới đi vào hoạt động và có kế hoạch cấp bổ sung các năm tiếp theo. Nguồn vốn này, một phần đƣợc sử dụng để hình thành nên các tài sản cố định của ngân hàng (trụ sở, phƣơng tiện làm việc, đi lại, thiết bị …), một phần hòa cùng các nguồn vốn khác để thực hiện hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 động cho vay.
- Vốn cấp hàng năm để thực hiện các chƣơng trình tín dụng chính sách: Hàng năm NHCSXH đƣợc tiếp nhận một lƣợng tiền đƣợc trích ra từ Ngân sách Nhà nƣớc để thực hiện các chƣơng trình tín dụng cho các đối tƣợng chính sách xã hội. Nguồn vốn này ổn định nhƣng số lƣợng còn phụ thuộc vào việc phân bổ ngân sách cho việc thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia hàng năm của Nhà nƣớc. Nguồn trái phiếu Chính phủ Nguồn vốn của Chính phủ huy động dƣới các hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ trong và ngoài nƣớc để chỉ định thực hiện chƣơng trình tín dụng chính sách: Đây là nguồn vốn rẻ, có thời gian sử dụng dài. Tuy nhiên lƣợng vốn huy động đƣợc, lại phải phân chia cho nhiều mục tiêu phát triển của đất nƣớc nên NHCSXH chỉ dựa vào nguồn vốn này khi mới đi vào hoạt động hoặc khi gặp khó khăn trong thanh toán.
Vốn do Ngân sách các địa phƣơng hỗ trợ Hàng năm các địa phƣơng đều có trích từ ngân sách của mình một lƣợng tiền nhất định chuyển cho NHCSXH để thực hiện các chƣơng trình tín dụng chính sách trên địa bàn. Tuy nhiên nguồn vốn này thƣờng rất ít và phụ thuộc vào điều kiện riêng của từng địa phƣơng. Vốn vay lãi suất thấp - Vốn vay ODA: Là nguồn vốn của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ trong và ngoài nƣớc dành cho chƣơng trình tín dụng chính sách của Chính phủ. Vốn từ nguồn này có khối lƣợng lớn, lãi suất tƣơng đối thấp, thời gian sử dụng dài, có thời gian ân hạn, kèm theo chuyển giao công nghệ, chuyên gia, cung cấp thông tin và đào tạo.
Tuy vậy, nguồn vốn này thƣờng kèm theo các điều kiện kinh tế, chính trị mà ngân hàng không dễ thực hiện, nhiều khi những điều kiện này làm cho vốn đắt lên, hiệu quả sử dụng thấp đi. - Vốn vay Ngân hàng Nhà nƣớc, Kho bạc Nhà nƣớc: NHCSXH tận dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức này để vay với lãi suất ƣu đãi (thƣờng là không phải chịu lãi suất, hoặc lãi suất rất thấp so với thị trƣờng) phục vụ cho các chƣơng trình cho vay của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Nguồn vốn huy động và vay lãi suất thị trƣờng Đây là nguồn vốn huy động từ vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân và các tổ chức trong và ngoài nƣớc dƣới các hình thức nhƣ: - Nhận tiền gửi từ các TCTD Nhà nƣớc: NHCSXH tập trung vận động các TCTD Nhà nƣớc gửi tiền vào ngân hàng dƣới hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi không hƣởng lãi hoặc hƣởng lãi suất hợp lý. - Vốn huy động của Tổ chức, cá nhân trên thị trƣờng, bao gồm: tiền gửi, tiết kiệm, đi vay các tổ chức, nhận vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng có bảo lãnh của Chính phủ…Tuy nhiên, khối lƣợng nguồn vốn huy động trên thị trƣờng của NHCSXH phụ thuộc vào khối lƣợng và kế hoạch cấp bù phần chênh lệch lãi suất” từ Ngân sách Nhà nƣớc.