Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dạy học môn Tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên. Chương 2: Thực trạng về chất lượng dạy học môn Tiếng Anh chuyên ngành tại khoa Công nghệ Kỹ thuật Ô tô tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Chương 3: Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Ô tô Khoa Cơ khí Động lực tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. 5 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH 1.
Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 1. Trên thế giới Xuất phát từ Chua - Rob Carmichael, Australia Universities Quality Agency, Australia [24] tại ngữ cảnh giáo dục đại học tại Canada. Tác giả thực hiện một cuộc khảo sát ý kiến bốn nhóm đối tượng: 35 sinh viên năm ba, phụ huynh, 10 GV và 60 nhà tuyển dụng để xem liệu có sự khác biệt nào giữa các nhóm về quan niệm chất lượng trong giáo dục đào tạo bậc đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy mỗi nhóm đối tượng khác nhau lại có những suy nghĩ, đánh giá rất khác nhau về cơ sở đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.
Trong đó phần đông SV cho rằng nâng cao chất lượng giáo dục đại học cần phải gắn liền với cải tiến quy trình giáo dục (bước 2 trong sơ đồ 1) và sản phẩm đầu ra ( bước 3 trong sơ đồ 1). Trong khi đó phụ huynh lại cho rằng chất lượng đi kèm với danh tiếng của cơ sở giáo dục ( bước 1 trong sơ đồ 1) và kết quả đầu ra ( bước 3 trong sơ đồ 1). GV nhận xét tổng thể khi cho rằng cả 3 bước đều quan trọng như nhau. Còn riêng các nhà tuyển dụng, họ quan tâm nhiều hơn đến kết quả sản phẩm giáo dục.
Bài nghiên cứu này đã cho thấy một cái nhìn sơ lược về việc nâng cao chất lượng dạy học đại học nói chung và việc dạy học một phân môn cụ thể nào đó nói riêng. Dưới mỗi góc độ, khía cạnh khác nhau và vai trò khác nhau, các giải pháp hoặc mức độ đánh giá của mỗi cá nhân lại khác nhau. Một bài nghiên cứu khác đến từ Hoa Kỳ, được thực hiện bởi Wiek và cộng sự (2014), lại đi vào việc phân tích hiệu quả ứng dụng một phương pháp cụ thể trong dạy học, dạy học theo những dự án, Tiếng Anh gọi là Project-based approach. Bối cảnh nghiên cứu tại một phân viện của trường Đại học Bang Arizona (Arizona State University’s School of Sustainability).
Công cụ nghiên cứu rất đa dạng từ tài liệu văn bản, quan sát thực tế, phỏng vấn, đánh giá từ phía SV và khảo sát ý kiến GV. Trong cuộc nghiên cứu, các hoạt động học tập theo dự án được giao đến SV đại học và sau đại học dưới nhiều hình thức khác nhau để tìm hiểu cơ chế giáo dục nào đã giúp thể hiện sự thành công của phương pháp. Kết quả cho thấy tại đơn vị 6 Luan van giáo dục này rất nhiều hoạt động học tập được tổ chức dưới dạng dự án, trong đó SV đại học lẫn sau đại học sẽ thực thi những kế hoạch cụ thể, dự án cụ thể và báo cáo kết quả. GV lẫn SV đều có những đánh giá tích cực về phương pháp.
Tác giả đi đến kết luận cách làm này không những lấy người học làm trung tâm mà còn khiến người học rèn luyện kỹ năng tự học, tư duy độc lập và tinh thần làm việc nhóm. Một phương pháp dạy học tích cực hóa người học khác đã được thực hiện tại bối cảnh một quốc gia Châu Á, Hàn Quốc. Choi (2015) đã trình bày nghiên cứu về tác động của việc dạy Tiếng Anh thông qua Tiếng Anh lên GV và việc dạy học tại Hàn Quốc. Với công cụ phỏng vấn các GV tham gia một khóa tập huấn nghiệp vụ sư phạm, bài nghiên cứu cho thấy việc ứng dụng TA vào giảng dạy môn chuyên ngành cụ thể tại một bối cảnh sử dụng TA làm ngoại ngữ mang lại những tiềm năng nhất định.
Tuy nhiên, các khóa học như thế cần được thiết kế một cách hợp lý và linh hoạt, dựa trên thực tiễn giáo dục thực tại và nhu cầu của người học để mang lại hiệu quả tối ưu. Một bài nghiên cứu khác do Lee (2016) thực hiện tại bang Carolina, Hoa Kỳ, lại mang góc nhìn hiện đại khi đưa CNTT vào việc giảng dạy thông qua hệ thống máy vi tính và Internet. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng nhiều công cụ như MySpanishLab, Audioboo, VoiceThread, và Blackboard Collaborate vào hai khóa học tiếng Tây Ban Nha online liên tiếp vào mùa hè 2013 và 2014. Tuy nhiên, không chỉ ứng dụng phương tiện-kỹ thuật hiện đại, tác giả còn ứng dụng phương pháp dạy học ngôn ngữ tích cực hóa người học bằng cách đưa ra các hoạt động theo nhiệm vụ thực tế, những lời góp ý-nhận xét và hướng dẫn tận tình.
Đối tượng nghiên cứu là 48 SV có tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, và mới bắt đầu học Tiếng Tây Ban Nha. Khóa học online trên được thiết kế dưới dạng tích hợp 4 kỹ năng ngôn ngữ. Có 3 lần tác giả lấy ý kiến khảo sát từ người học. Một lần khảo sát giữa kỳ, một lần khảo sát ngay sau khóa học và cuộc phỏng vấn trực tiếp sau khi kết thúc học kỳ đã giúp tác giả nhận ra những điều sau.
Việc ứng dụng các công cụ trên web và máy tính có thể giúp SV tăng tính chủ động trong giờ học và tạo động lực học tập nhiều hơn so với phương pháp dạy học truyền thống thầy nói-trò nghe. Tuy vậy, sự hướng dẫn và 7 Luan van giám sát của người thầy cùng với phương pháp giảng dạy hợp lý vẫn cần được phát huy, chứ không nên bị xóa bỏ, để giúp việc dạy học trở nên hiệu quả hơn 005B [23]. Một bối cảnh nghiên cứu tại Thái Lan, quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, lại mang thêm một cái nhìn mới mẻ cho việc nâng cao chất lượng dạy học TA. Teng & Sinwongsuwat (2014) đã bình luận về ứng dụng phương pháp phân tích cấu trúc bài đối thoại lồng ghép phương pháp dạy học theo đường hướng giao tiếp vào việc dạy kỹ năng nói Tiếng Anh tại ngữ cảnh Thái Lan.
Tương tự như ở Việt Nam, tại đây người học lẫn người dạy vẫn gặp những khó khăn nhất định như: thời gian dạy học bị hạn chế, thiếu hụt phương pháp dạy học và năng lực giảng dạy của GV, xu hướng thích học ngôn ngữ theo hướng đúng/sai hơn là độ lưu loát, kích cỡ lớp đông, và thói quen học tập thụ động. Qua đó, tác giả đề xuất phương pháp phân tích cấu trúc bài đối thoại đưa vào phương pháp dạy học kiểu giao tiếp. Phương pháp này khá tiềm năng khi giúp SV Thái Lan học TA biết rõ mình sẽ nói gì và nói như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh cũng như khiến lớp học trở nên tích cực hơn khi người học dần xóa bỏ nỗi sợ nói và nói hợp lý hơn. Chung quy lại, tất cả các bài nghiên cứu đều hướng đến việc dạy học TA một cách tích cực hơn.
Người học không còn chỉ biết lắng nghe hay tiếp nhận thông tin 1 phía, mà họ được tạo điều kiện thực hành nhiều hơn.2 Tại Việt Nam Từ những khái niệm cơ bản nhất của đề tài này, phần dưới đây khai thác cơ sở dữ liệu về ứng dụng hiệu quả và những đề xuất thú vị cho việc dạy học tích cực hóa người học vào bộ môn Tiếng Anh chuyên ngành nói riêng và Tiếng Anh không chuyên nói chung. Từ đó làm cơ sở cho những gợi ý giải pháp ở chương sau. Xét trên phương diện lịch sử nghiên cứu, đề tài này được thực hiện không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới, những nước sử dụng Tiếng Anh như một ngoại ngữ, với nhiều hình thức và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Do bối cảnh, năng lực chuyên môn và thời lượng nghiên cứu còn hạn hẹp nên tác giả chỉ tập trung khai thác một số bài nghiên cứu.
Trong đó, 20 bài tập trung vào bối cảnh Việt Nam và 5 bài thuộc những quốc gia khác. 8 Luan van Vấn đề nghiên cứu dạy học Tiếng Anh chuyên ngành nói riêng và Tiếng Anh không chuyên nói chung đã và đang trở thành một trong những trọng tâm của nghiên cứu giảng dạy Tiếng Anh tại Việt Nam. Với Nguyễn Hồng Kỷ - Tính hệ thống – Cấu trúc trong dạy học – Kiểm tra đánh giá môn Tiếng Anh hiện nay (2009) - Ngôn ngữ và đời sống (7) 18 - 27, tác giả dựa trên cơ sở lý luận và thực trạng dạy học - thi cử môn Tiếng Anh tại Việt Nam, từ đó hướng đến tính hệ thống - cấu trúc trong toàn bộ việc dạy học - đánh giá. Trong đó nhấn mạnh đến tính lồng ghép tích hợp 4 kỹ năng trong giảng dạy Tiếng Anh và xây dựng đề thi.
Bài phân tích này góp phần khơi gợi lên một số điểm cần đáng lưu tâm trong công tác giáo dục Tiếng Anh ở Việt Nam hiện tại. Đó là, việc quá sa đà vào ngữ pháp - từ vựng mà phớt lờ kỹ năng nghe - nói, vô hình trung có thể biến môn Tiếng Anh thành một môn học khô khan và người học gần như thụ động hơn [9]. Nguyễn Thị Thanh Hà & Nguyễn Quang Tiến – Giảng dạy Tiếng Anh tại trường UEF phát triển và hội nhập (2010). Tạp chí phát triển và hội nhập, (07)41- 46.
lại nhắc đến hai trường phái trong giáo dục Tiếng Anh trên thế giới. Trường phái đầu tiên, BANA, áp dụng tại các nước nói Tiếng Anh như Anh, Mỹ, Úc, Newzealand và Bắc Mỹ. Trường phái thứ hai xuất hiện ở các nước không nói Tiếng Anh như ngôn ngữ mẹ đẻ. Trường phái này gọi là TESEP.
Đặc trưng khác biệt giữa hai trường phái này cũng tương tự như giữa dạy học truyền thống và dạy học tích cực hóa người học. Trương phái thứ nhất tích cực - chủ động hơn khi Tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc, và Giáo viên lắng nghe người học nhiều hơn, người học tham gia tích cực nhiều hơn trong từng buổi học. Trái lại trường phái TESEP nhấn mạnh đến vai trò của người thầy. Tiếng Anh được xem như một môn học riêng lẻ và được sắp xếp theo thời khóa biểu trong một khối lượng và không gian bó hẹp, rất khó để người dạy lẫn người học được linh hoạt hơn.
Kéo theo khá nhiều hệ lụy trong giáo dục. Từ đó nhóm tác giả giới thiệu mô hình đào tạo Tiếng Anh tại trường Đại học Kinh tế-Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh (UEF).