Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số; Chương 2: Tình hình chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng; Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã và đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã là ngƣời dân tộc thiểu số 1. Khái niệm đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu 1.
Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã Trong bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay, chính quyền cơ sở góp một vai trò quan trọng, là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, trực tiếp tổ chức thi hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo hiệu quả, triển khai nghị quyết của Đảng và những quy định của Nhà nước tại địa bàn cơ sở. Bộ máy nhà nước ở Trung ương muốn vững mạnh thì phải thường xuyên củng cố và kiện toàn chính quyền cơ sở. Đó là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân ở nước ta hiện nay. Hiến pháp năm 2013 quy định chính quyền cấp xã là một cấp - cấp cơ sở - trong hệ thống hành chính bốn cấp của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay.
Chính quyền cấp xã là tổ chức nhà nước gần dân nhất nên không chỉ là nơi đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ mà còn tạo điều kiện thiết thực phát huy quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân tại cơ sở, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mọi công dân, đồng thời tạo điều kiện cho người dân ổn định đời sống vật chất và tinh thần trong phạm vi xã, phường, thị trấn. Xét về mặt cấu trúc tổ chức, chính quyền cấp xã gồm hai bộ phận cấu thành: HĐND cấp xã và UBND cấp xã. Như vậy, HĐND xã, phường, thị trấn 7 là bộ phận cấu thành không thể tách rời của chính quyền cấp cơ sở ở nước ta hiện nay. HĐND cấp xã ở Việt Nam là hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực của Nhân dân trong xã, do Nhân dân ở xã bầu ra, đại diện cho Nhân dân trong xã.
Xét về chức năng nhiệm vụ, giống như HĐND các cấp, HĐND cấp xã có hai chức năng, chức năng quyết định và chức năng giám sát. Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định về địa vị pháp lý của HĐND các cấp và đại biểu HĐND các cấp, cụ thể là HĐND gồm các đại biểu HĐND, và các đại biểu này do cử tri ở địa phương bầu ra, HĐND các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, và HĐND chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Đối với HĐND, đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, đại biểu HĐND chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Trong việc thảo luận và quyết định những vấn đề theo nhiệm vụ, quyền hạn, đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND [42].
Như vậy, đại biểu HĐND cấp xã là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương. Đại biểu HĐND cấp xã vừa chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về mọi mặt kinh tế - xã hội, đảm bảo thực hiện Hiến pháp, Luật và các quyết định của cơ quan nhà nước tại địa phương. Trong hoạt động, đại biểu HĐND cấp xã thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng để phát huy các tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện quyền giám sát việc tuân theo pháp luật 8 của UBND cùng cấp và của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân đóng tại địa phương. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số Vấn đề dân tộc thiểu số đã được xác định trong Điều 4, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, về Công tác dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số được xác định là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong đó dân tộc đa số cũng được xác định là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia [5]. Như vậy, trong tổng số 54 dân tộc anh em đại gia đình dân tộc Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm 86% dân số, được gọi là dân tộc đa số. Các dân tộc còn lại được gọi là các dân tộc thiểu số. Trên cơ sở đó, có thể nhận diện dân tộc thiểu số trên nhiều bình diện khác nhau.
Xét về số dân, dân tộc thiểu số có số dân không nhiều trong tổng dân số Việt Nam. 53 dân tộc gọi chung là dân tộc thiểu số chỉ chiểm 14% trong tổng dân số Việt Nam. Xét về địa bàn cư trú, do tính chất đặc thù của dân tộc thiểu số, bao đời nay, dân tộc thiểu số ở Việt Nam chủ yếu sinh sống ở các vùng miền có vị trí địa lý, khí hậu khá phức tạp như miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Xét về phong tục tập quán của dân tộc thiểu số, mỗi tộc người trong 53 tộc người thiểu số đều có phong tục tập quán của riêng mình.
Những nét văn hóa đa dạng, đặc sắc tạo thành vóc dáng riêng biệt của các tộc người với nhau trong cộng đồng 54 dân tộc anh em. Xét về ngôn ngữ, mỗi dân tộc trong cộng đồng dân tộc thiểu số Việt Nam đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Có dân tộc còn có chữ viết riêng. 9 Cao Bằng là tỉnh có đến hơn 90% dân số là người dân tộc thiểu số.
Các dân tộc sống xen kẽ nhau. Dân tộc Tày, Nùng, Mông, Kinh, Hoa sinh sống chủ yếu ở các huyện miền Đông của Cao Bằng như huyện Quảng Uyên, huyện Hạ Lang, huyện Trùng Khánh, huyện Phục Hòa. Các huyện miền Tây như huyện Trà Lĩnh, huyện Hòa An, huyện Hà Quảng, huyện Thông Nông, huyện Nguyên Bình là nơi sinh sống chủ yếu của các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa. Huyện Bảo Lạc, huyện Bảo Lâm là nơi sinh sống chủ yếu của các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa, Sán Chỉ, Lô Lô.
Cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số trong phạm vi cả nước, dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần. Những khó khăn đó rất cần được Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm và đầu tư đúng mức. Trên cơ sở Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định về địa vị pháp lý của HĐND các cấp và đại biểu HĐND, có thể hiểu đại biểu HĐND cấp xã là người dân tộc thiểu số là người dân tộc thiểu số do cử tri ở cấp xã bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương. Như vậy, trước hết đại biểu HĐND cấp xã là người dân tộc thiểu số là người xuất thân từ trong cộng đồng dân tộc thiểu số, được lưạ chọn và được bầu làm đại biểu HĐND cấp xã.
Với tư cách là đại biểu HĐND cấp xã, đại biểu HĐND cấp xã là người dân tộc thiểu số là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp xã, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Về cơ chế chịu trách nhiệm, đại biểu HĐND cấp xã là người dân tộc thiểu số vừa chịu trách nhiệm trước Nhân dân ở xã, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về mọi mặt kinh tế - xã hội, đảm bảo thực hiện Hiến pháp, luật và các quyết định của cơ quan nhà nước tại địa phương. 10 Với tư cách đại biểu của Nhân dân ở xã, trong hoạt động, đại biểu HĐND cấp xã là người dân tộc thiểu số thay mặt Nhân dân ở xã thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng để phát huy các tiềm năng ở xã, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội cũng như các mặt đời sống xã hội khác. Đại biểu HĐND cấp xã là người dân tộc thiểu số đại diện cho Nhân dân ở xã thực hiện quyền giám sát đối với UBND cùng cấp và của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân đóng tại địa bàn xã việc tuân theo pháp luật nói chung.
Đặc điểm đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số 1.1 Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã *Đại biểu HĐND cấp xã là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trong xã, đại diện cho trí tuệ tập thể của cử tri. Tính đại diện cho Nhân dân của đại biểu HĐND cấp xã được thể hiện ở những điểm sau: Đại biểu HĐND cấp xã được Nhân dân trong xã trao quyền thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở xã thông qua các quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước, thông qua hoạt động giám sát. Sự yêu cầu về lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân địa phương là cơ sở căn cứ xác định nội dung hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã. Đại biểu HĐND cấp xã phải phản ánh trung thực và bảo vệ mọi quyền, lợi ích chính đáng của cử tri nơi bầu ra mình.
Đại biểu cần quan tâm đến mọi nguồn thông tin đại chúng để hiểu rõ những vấn đề cử tri đang đòi hỏi, để hình thành chương trình hoạt động của mình.