phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Một số vấn đề về chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình đô thị hóa Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm nâng cao chât lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm có liên quan 1. Chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau. Chất lượng cuộc sống thường được lưu ý phân biệt với mức sống.
Mức sống là thước đo về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần. Sharma thì chất lượng cuộc sống là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của chính bản thân xã hội. Ông định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người. Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được.
Nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống” [41]. Như vậy, theo ông thì mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra chất lượng cuộc sống. Nội dung khái niệm chất lượng cuộc sống đã được William Bell mở rộng toàn diện. Theo ông, chất lượng cuộc sống thể hiện ở 12 đặc trưng: (1) An toàn thể chất cá nhân; (2) Sung túc về kinh tế; (3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật; (4) An ninh quốc gia được đảm bảo; (5) Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau; (6) Hạnh phúc về mặt tinh thần; (7) Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội; (8) Bình đẳng về giáo dục, y tế; (9) Chất lượng đời sống văn hóa; (10) Quyền tự do công dân; (11) Chất lượng môi trường kỹ thuật; (12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm.
Trong đó, ông nhấn mạnh nội dung “An toàn” và đã khẳng định chất lượng cuộc sống được đặc trưng bằng sự an toàn trong một môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh [16]. Để định lượng khái niệm CLCS, Thái Lan xây dựng hệ thống chỉ tiêu dựa vào các nội dung cốt lõi của CLCS là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông tin, an toàn, việc làm. Trên cơ sở những khảo sát và xác định 37 chỉ số theo các nhóm nhu cầu cơ bản của CLCS. Người ta đưa ra những biện pháp thực hiện gắn liền với địa bàn dân cư, với trách nhiệm các ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cấu hạ tầng xã hội của Nhà nước.
Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống theo 3 mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao). Trong 9 chuẩn mực sống: ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch vụ xã hội, an toàn, thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần, bảo vệ môi trường. Các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết. Có 10 chỉ tiêu để đánh giá mức độ phát triển của CLCS thuộc lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bản.
Đồng thời, các chỉ tiêu đánh giá CLCS rất phù hợp với đặc điểm của một quốc gia đang phát triển. Và những vấn đề xã hội như kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần được coi như là một chuẩn mực quan trọng của CLCS. Để lượng hoá những thay đổi của chất lượng cuốc sống, Malayxia đã xây dựng các chỉ số chất lượng cuộc sống của mình (Malaycia Quality of Life Index, viết tắt là MQLI). Chỉ số MQLI được xây dựng trên cơ sở chọn lựa 10 lĩnh vực, chủ yếu là thu nhập và phân phối việc làm, giao thông liên lạc, sức khoẻ, giáo dục, nhà ở, môi trường, cuộc sống gia đình, sự tham gia hoạt động của xã hội và an toàn công cộng.
Những lĩnh vực này được coi là sẽ đáp ứng được sự phồn vinh và chất lượng cuộc sống của dân số, như vậy chúng được gia quyền khi tính toán, với quyền số tỷ lệ với mức độ tác động của từng lĩnh vực. Để tính được chỉ số này cần phải có 38 chỉ báo có thể. Các chỉ bảo này lại được chọn dựa trên cơ sở mức độ quan trọng của chúng đối với từng lĩnh vực đặc biệt cũng như căn cứ vào sự sẵn có của thông tin. Việc chọn các chỉ báo nhằm tính toán chất lượng cuộc sống thông qua đánh giá sự tác động của phát triển kinh tế đối với dân số.
Để tính toán MQLI cho Malayxia, người ta đã sử dụng số liệu thống kê của 19 năm (1980-1998), trừ số liệu về môi trường chỉ có được từ năm 1985. Năm 1990 được chọn là năm gốc có mức độ trung bình. Dưới đây là 30 chỉ báo phân tổ thành 10 lĩnh vực. (1) Nhóm thu nhập và phân phối thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người: GDP/đầu người; hệ số GINI; tỷ lệ nghèo đói.
(2) Nhóm lao động: Tỷ lệ thất nghiệp; tranh chấp thương mại; ảnh hưởng của công nghiệp đối với việc làm của lao động nam; tỷ lệ tai nạn lao động công nghiệp. (3) Nhóm giao thông liên lạc: ô tô và xe máy tư; xe cộ cho thương mại; phát triển đường giao thông; điện thoại; tổng số báo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát hành hàng ngày. (4) Nhóm sức khoẻ: Tuổi thọ bình quân của nam, nữ; tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi; tỷ số bác sỹ/dân số; tỷ số gường bệnh/dân số. (5) Nhóm giáo dục: Tỷ lệ trẻ đi học mần non; tỷ lệ đi học phổ thông; tỷ lệ đi học đại học; tỷ lệ biết đọc, biết viết; tỷ số giáo viên phổ thông cơ sở/học sinh; tỷ số giáo viên trung học cơ sở/học sinh.
(6) Nhóm nhà ở: Giá nhà bình quân; nhà ở cho người thu nhập thấp; nhà ở có máy nước; nhà ở có điện sinh hoạt. (7) Nhóm môi trường: Chất lượng không khí; các dòng sông sạch; độ che phủ của rừng. (8) Cuộc sống gia đình: Ly hôn; tỷ suất sinh; quy mô hộ; tội phạm vị thành niên. (9) Sự tham gia hoạt động xã hội: Cử tri có đăng ký; thành viên các tổ chức tình nguyện.
(10) An toàn công cộng: tội phạm; tai nạn giao thông. Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người. Mức đáp ứng càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao. Theo quan điểm của cá nhân, chất lượng sống ở một nơi nào đó (địa phương, quốc gia hay khu vực) là khả năng, là điều kiện ở đó có thể đảm bảo tới mức nào để người dân ở đó có thể tham gia cống hiến được cho cuộc sống và tận dụng được những cơ hội và phúc lợi mà cuộc sống ở đó mang lại và bị ảnh hưởng tới mức nào đó bởi những thách thức và rủi ro xảy ra ở nơi đó.
Chính trong đề tài, tôi sẽ đi vào phân tích một số yếu tố của chất lượng cuộc sống như: việc làm, điều kiện sinh hoạt, giáo dục, việc chăm sóc sức khỏe và môi trường sống tại địa phương cùng một số tiêu chí khác. Đô thị hóa Theo Luật Quy hoạch đô thị 2009, “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”. Đô thị hoá được hiểu là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực [27] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đô thị hoá là một quá trình xã hội - kinh tế nhiều mặt và phức tạp, hiện nay đang ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, do đó đòi hỏi một phương pháp tiếp cận tổng hợp dựa trên sự hợp tác của nhiều ngành khoa học (Pivovarov, tr. Một cách hiểu thông thường và phổ biến đô thị hóa chính là quá trình phát triển dân số đô thị, kinh tế phát triển theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp GDP và tỷ trọng lao động của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ và giảm tỷ trong nông nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông, cơ sở dịch vụ xã hội, thông tin liên lạc).
Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, xã hội cũng dẫn đến sự thay đổi trong lối sống của người dân bao gồm cả hình thức kết đoàn xã hội. Các kiểu đô thị hoá: i) Đô thị hoá thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hoá diễn ra ngay chính trong đô thị. Ở đây cũng có sự di dân, nhưng là từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô. Quá trình này cũng có thể là quá trình chỉnh trang, nâng cấp đô thị, đáp ứng yêu cầu mới; ii) Đô thị hoá cưỡng bức: Là khái niệm dùng để chỉ sự di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị.
Đặc điểm đô thị hoá cưỡng bức là không gian kiến trúc không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao. Các nhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng. Đô thị trở nên quá tải, nhiều tiêu cực phát sinh; iii) Đô thị hoá ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn. Theo các học giả Mỹ, hiện tượng này còn gọi là “sự phục hưng nông thôn”.