CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Được đề cập trong nhiều nghiên cứu khác nhau và trong các tài liệu học thuật, tín dụng xuất phát từ gốc chữ La tinh: Credittum - tức là tin tưởng, tín nhiệm; tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là sự vay mượn. Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo Luật các TCTD (2010), “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Trong đó, cho vay là một hình thức cấp tín dụng của các NHTM và được định nghĩa là “hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay tiêu dùng cách đây khoảng 20 mươi năm về trước còn là khái niệm "khá mới" đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam, nhưng chỉ một vài năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành mục tiêu của nhiều TCTD, nhất là các TCTD ngoài nhà nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển. Nếu như ở các nước phát triển, tỷ trọng cho vay tiêu dùng thường chiếm khoảng từ 40% đến 50% trên tổng dư nợ, thì tỷ lệ này của các TCTD Việt Nam hiện chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 5% trên tổng dự nợ tín dụng (Khuất Duy Tuấn, 2005).
Qua đó cho thấy, với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ như hiện nay và với số dân trên 97 triệu người (đầu năm 2019) đang mở ra thị trường cho vay tiêu dùng vô cùng rộng lớn và đầy tiềm năng.Dinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Dinh 11 Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. Do đó, cho vay tiêu dùng có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung (Khuất Duy Tuấn, 2005): − Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình. − Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh.
Do đó phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. − Khách hàng vay tiêu dùng thường ít quan tâm đến lãi suất mà thường quan tâm đến số tiền họ phải thanh toán. − Về lãi suất, do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại. − Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, không nhất thiết phải là từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay đó.
− Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định và có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng thương mại quyết định cho vay.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại − Đối với nền kinh tế: hoạt động cho vay tiêu dùng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế nhờ vào vai trò trung gian luân chuyển vốn của các NHTM, chính vai trò này đã làm cho lượng tiền mặt giảm trong các tầng lớp dân cư, làm giảm áp lực lạm phát, từ đó góp phần ổn định tiền tệ. Hơn nữa, nhờ vào nguồn cung ứng vốn của NHTM trong việc hỗ trợ cho nhu cầu tiêu dùng của các khách hàng đã kích cầu cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh… làm cho sản xuất ngày càng phát (LUAN.Dinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Dinh 12 triển, sản phẩm hàng hoá dịch vụ làm ra ngày càng nhiều, đáp ứng được nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội. Từ đó, sự ổn định và phát triển thị trường giá cả trong nước, đời sống an sinh xã hội ổn định, người lao động có công ăn việc làm… đó là tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững của xã hội (Nguyễn Tuyết Anh, 2019). − Đối với ngân hàng: trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, hệ thống ngân hàng sẽ trở thành một ngành đầy tiềm năng và thử thách, thu hút được nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi các ngân hàng phải chú trọng đến việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, trong đó có dịch vụ huy động vốn và hoạt động cấp tín dụng.
Việt Nam với dân số hơn 97 triệu người là một thị trường đầy tiềm năng đối với các NHTM, đặc biệt là các sản phẩm dịch vụ phục vụ cho nhu cầu và mong đợi của các cá nhân và hộ gia đình. Quá trình hội nhập, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và mức sống mỗi cá nhân sẽ ngày càng cao. Đây chính là một thị trường hấp dẫn cho các ngân hàng triển khai dịch vụ tài chính, như thu hút vốn (dưới dạng tiền gửi thanh toán, tiền tiết kiệm), thu phí dịch vụ thanh toán (chuyển tiền, phí kiểm đếm tiền, phí giữ hộ…) và lợi nhuận từ cấp tín dụng. Cho vay cá nhân là một kênh thuận lợi tạo ra mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng; thông qua đó, các ngân hàng có thể giới thiệu các sản phẩm tiện ích tài chính, như: tiền gửi, tiền thanh toán, các dịch vụ chuyển tiền, chuyển khoản, kiểm đếm, giữ hộ,… từ đó tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nâng cao thu nhập đồng thời giúp ngân hàng phân tán rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng (Nguyễn Tuyết Anh, 2019).
− Đối với khách hàng: đời sống kinh tế xã hội ngày phát triển, nhu cầu về hàng hoá dịch vụ tiêu dùng của người dân càng trở nên đa dạng và phong phú hơn. Các sản phẩm tiêu dùng ngày một đa dạng hơn làm cho người tiêu dùng luôn chạy theo xu hướng đó. Khách hàng có thể sử dụng tiền của chính mình để tiêu dùng và mua sắm sản phẩm trong trường hợp do có đủ điều kiện. Trong trường hợp không đủ khả năng để chi ra một lượng tiền lớn để mua sắm, hoặc họ không muốn sử dụng nguồn vốn của chính mình, họ có thể sử dụng dịch vụ cho vay tiêu dùng do ngân hàng cung cấp.
Loại hình tín dụng này dùng mở rộng và hỗ trợ cho người dân trong việc chi tiêu, như: mua sắm, xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa, mua sắm phương tiện đi lại, du lịch, (LUAN.Dinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Dinh 13 du học… nhằm cải thiện, nâng cao mức sống và trình độ dân trí của toàn xã hội. Nhờ vào tín dụng tiêu dùng người lao động có thể được thỏa mãn nhu cầu, tái tạo sức lao động, kích thích người dân lao động tích cực làm việc, sáng tạo và tăng năng suất lao động. Hơn nữa, cho vay tiêu dùng sẽ góp phần hạn chế tín dụng đen, cho vay nặng lãi, vốn là hoạt động phi pháp và gây ra những hậu quả nặng nề cho người dân và toàn xã hội (Nguyễn Tuyết Anh, 2019).3 Đặc điểm và đối tượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1. Đặc điểm cho vay tiêu dùng − Dịch vụ cho vay tiêu dùng của NHTM có thể là một trong những dịch vụ mang chi phí cao nhất với nhiều rủi ro nhất vì tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình không ổn định, có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng công việc hay sức khoẻ của họ.
Do đó các khoản cho vay tiêu dùng luôn được quản lý, kiểm soát một cách chặt chẽ và linh hoạt (Nguyễn Quỳnh, 2013). − Qui mô và số lượng các khoản vay tiêu dùng thường có qui mô tương đối nhỏ so với các khoản cho vay kinh doanh. Cho vay bất động sản có thể có giá trị lớn hơn, nhưng giá trị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu do khách hàng chỉ vay tiêu dùng khi đã có một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để bổ sung số tiền còn thiếu.
Tuy nhiên số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lại rất lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội với nhu cầu tiêu dùng đa dạng. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, số lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều thêm (Nguyễn Thị Nữ, 2017). − Thời hạn vay: các khoản cho vay tiêu dùng thường là ngắn và trung hạn do món vay có giá trị nhỏ nhưng rủi ro cao. − Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng chính là thu nhập của người đi vay hoặc TSĐB của họ, do đó ngân hàng thường xem xét mức thu nhập thường xuyên của khách hàng để ra quyết định cho vay.Dinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Dinh 14 − Lãi suất cho vay tiêu dùng: có lãi suất cao hơn lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác.
Nguyên nhân là do quy mô của hợp đồng cho vay nhỏ lại khó quản lý hơn vì vậy chi phí cho vay của ngân hàng cao. Để bù đắp chi phí này, tất nhiên, lãi suất cho vay sẽ cao. Bên cạnh đó, không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định ở một mức nhất định (Nguyễn Thị Nữ, 2017).