Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 9 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Chương hai của luận án trình bày cơ sở lý thuyết về tác động của TDHTM đến cấu trúc thuế, mối quan hệ giữa cấu trúc thuế và TTKT dưới sự tác động của TDHTM. Đây là cơ sở để thiết lập mô hình thực nghiệm, thực hiện các kiểm định thực nghiệm nhằm khám phá các tác động này tại trường hợp các nước đang phát triển giai đoạn 2000 – 2019. Nội dung chương 2 được cấu trúc như sau: phần thứ nhất trình bày khung khái niệm; phần thứ hai nêu cơ sở lý thuyết của cấu trúc thuế, TTKT và TDHTM cũng như mối quan hệ giữa ba yếu tố này; cuối cùng là lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm từ đó chỉ ra được khe hỏng nghiên cứu.1 Các khái niệm liên quan Tăng trưởng kinh tế là cơ sở của gia tăng sự thịnh vượng. Tăng trưởng đến từ việc tích lũy vốn (cả con người và vật chất) và từ những đổi mới tiến bộ kỹ thuật.
Tích lũy và đổi mới nâng cao năng suất của các yếu tố đầu vào trong sản xuất và tăng mức đầu ra tiềm năng. Tốc độ tăng trưởng có thể bị ảnh hưởng bởi chính sách thông qua tác động của thuế đối với các quyết định kinh tế. Việc tăng thuế có thể làm giảm lợi tức đầu tư (vốn vật chất và con người). Lợi nhuận thấp hơn có nghĩa là tích lũy và đổi mới ít hơn do đó tốc độ tăng trưởng thấp hơn, đây là khía cạnh tiêu cực của thuế.
Tuy nhiên, một ưu điểm không thể phủ nhận của thuế là đóng góp nguồn thu cho ngân sách nhà nước, giúp cho các hoạt động chi tiêu công có thể nâng cao năng suất, cung cấp cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế, điều này gián tiếp góp phần TTKT. Như vậy, để có góc nhìn tổng thể hơn về mối quan hệ giữa thuế và TTKT, tác giả xin trình bày những khái niệm cơ bản mà lịch sử nghiên cứu đã nêu ra.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế Khái niệm tăng trưởng kinh tế lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” của Adam Smith xuất bản năm 1776. Theo đó, Adam Smith cho rằng, tăng trưởng kinh tế là tăng sản lượng đầu ra bình quân theo đầu người hoặc tăng sản phẩm lao động. Theo ông, tăng trưởng phụ thuộc vào 5 nhóm nhân tố là: đất đai (Đ), lao động (L), tư bản (V), tiến bộ kỹ thuật (K) và môi trường kinh tế - xã hội (M) và dùng hàm sản xuất để biểu thị: Yt = f (Đt, Lt, Vt, Kt, Mt) (Yt là sản lượng đầu ra tại thời điểm t) A.Smith cho rằng tăng trưởng đầu ra bình quân đầu người, một mặt phụ thuộc vào số lượng và chất lượng lao động đầu vào, mặt khác do tỷ lệ giữa người lao động sản xuất và phi sản xuất quyết định.Smith coi trọng vai trò của tích lũy tư bản đối với TTKT.
10 Theo ông, muốn tăng của cải thì phải tăng số lượng người lao động sản xuất và nâng cao năng suất lao động, còn muốn tăng năng suất lao động cần phải tăng đầu tư tư bản để cải tiến máy móc, thiết bị. David Ricardo (1772 – 1823) với tác phẩm: “Các nguyên tắc của chính trị kinh tế học và thuế khóa”, năm 1817, Ricardo cho rằng: tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai. Do đó, đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng.Smith, Ricardo coi đất đai, lao động, tư bản, tiến bộ kỹ thuật và môi trường thể chế kinh tế xã hội là các nhân tố tác động đến tăng trưởng. Tuy nhiên, những nội dung cơ bản liên quan đến TTKT trong lý thuyết của ông có những điểm khác với A.
Điểm cốt lõi trong lý luận về TTKT của D.Ricardo là tích lũy cơ bản. Ngoài ra, ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ngoại thương đối với TTKT của một nước. Harvey & Johnson (1973) đưa ra định nghĩa tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng khả năng sản xuất của một nước theo thời gian. Các khả năng đó là mở rộng quy mô để sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ mà người dân trong nền kinh tế mong muốn (Peterson, 1988).
Nói một cách cụ thể hơn, Nafziger (2006) định nghĩa tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng hoặc sự gia tăng lên về thu nhập bình quân đầu người của một nước. Đồng quan điểm đó, Jhingan (2003) cho rằng TTKT được đo bằng sự gia tăng lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại một nước. Một nền kinh tế được xem là đang phát triển khi tăng năng lực sản xuất và mang lại nhiều sản lượng hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, Kuznets (1974) cho rằng không nên định nghĩa tăng trưởng trong một phạm vi hạn hẹp.
Cụ thể, tác giả cho rằng không nên giới hạn phạm vi định nghĩa TTKT trong khuôn khổ sản lượng hoặc thu nhập, mà nên bao gồm những thay đổi trong cơ cấu của nền kinh tế và những thay đổi lớn trong điều kiện xã hội và thể chế. Trong đó những thay đổi này sẽ làm kích thích TTKT bằng cách tăng sản lượng hoặc thu nhập mà người dân trong nền kinh tế đạt được. Như vậy, tốc độ TTKT là sự gia tăng về quy mô sản lượng nước hoặc quy mô sản lượng nước bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định. Bản chất của TTKT là sự đảm bảo gia tăng quy mô sản lượng và sản lượng bình quân trên đầu người.
Có thể nói, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với mỗi nền kinh tế (Jackson & Senker, 2011). Theo Evans – Pritchard (1985), trong bốn mục tiêu kinh tế chính của chính phủ gồm lạm phát, thất nghiệp, cán cân thanh toán và TTKT, thì TTKT là quan trọng nhất. Mức sống của người dân thường được đo bằng số lượng hàng hóa và 11 dịch vụ được cung cấp, vì vậy, tăng trưởng kinh tế đồng nghĩa với sự gia tăng thu nhập của người dân. Khi đánh giá tác động của các biến tài chính đến TTKT, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm xuất phát từ thực tế là thuế ảnh hưởng đến TTKT thông qua tác động của thuế đến các biến tăng trưởng cá nhân như thế nào (Kotlan, Machova & Janickova, 2011).
Các lý thuyết tăng trưởng có thể được coi là các lý thuyết quan trọng làm nền tảng cho các nghiên cứu này. Công trình của Solow (1956) và Swan (1956), hoặc mô hình tăng trưởng tân cổ điển được xem là bước ngoặt trong các nghiên cứu về TTKT. Các tác giả cho rằng TTKT sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững, chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ TTKT ở trạng thái bền vững. Judd (1985) là một trong những người đầu tiên đề cập đến hiệu quả chi tiêu của chính phủ và tác động của chi tiêu chính phủ đến TTKT thông qua các loại thuế khác nhau.
Bài nghiên cứu của King & Rebello (1990) đã đi tìm nguyên nhân giải thích cho sự khác biệt giữa các nước trong TTKT dài hạn, có thể được xem là một đóng góp rất quan trọng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt này nằm trong chính sách thuế khác nhau ảnh hưởng đến những ưu đãi của các cá nhân đối với tích lũy vốn trong cả hai dạng - vật lý và nhân lực.2 Khung khái niệm về cấu trúc thuế 2.1 Khái niệm về thuế Cho đến hiện nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế. Chẳng hạn theo các nhà nghiên cứu kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khóa…” (Mác – Ăng Ghen tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, 1962, trang 522 trích trong Chuyên đề lý luận cơ bản về thuế, 2009).
Còn theo từ điển kinh tế của đại học Oxford, thuế là khoản thu bắt buộc của các tổ chức và cá nhân cho chính phủ, hình thành nên nguồn thu ngân sách để tài trợ cho các khoản chi tiêu công cộng. Định nghĩa này chỉ ra hai đặc điểm quan trọng của thuế: tính chất bắt buộc và thuế được dùng cho chi tiêu công. Nghĩa là, chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn liền với lợi ích cụ thể của người nộp thuế. Vì vậy, người nộp thuế không muốn nộp thuế.
Trong khi đó, nhà nước lại cần nguồn tài chính để duy trì bộ máy nhà nước và tài trợ cho các khoản chi tiêu công cộng 12 như trả lương cho cán bộ công chức, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp hàng hóa dịch vụ công. Vì vậy, nhà nước phải dùng quyền lực của mình thông qua hệ thống tòa án và cảnh sát, buộc các đối tượng có thu nhập chịu thuế phải nộp thuế. Một khái niệm về thuế tương đối hoàn thiện trong cuốn sách “Economics” của Makkollhell & Bruy-M (1993), dựa trên cơ sở đối giá như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Theo quan điểm này chỉ nhìn nhận thuế dưới gốc độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc nộp thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mà mình đang kinh doanh hoặc đang sinh sống.
Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định lúc đó.