BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------------------------- THÁI HOÀNG CHƯƠNG CẤU TRÚC SỞ HỮU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ THANH KHOẢN CỦA THỊ TRƯỜNG. BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng Mã số : 60.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ HẢI LÝ TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU Đặt vấn đề : Hiện nay, xu hướng thu hút các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài một quốc gia ngày càng trở nên bức thiết hơn. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Nền kinh tế ngày càng mở cửa hơn để đón nhận các dòng vốn từ bên ngoài. Từ khi nền kinh tế Việt Nam tiến hành các biện pháp mở nền kinh tế, tác động của dòng vốn đầu tư từ nước ngoài là rất đáng kể và hiện đang được các nhà hoạch định chính sách khuyến khích. Vì vậy, việc tiến hành những nghiên cứu nhằm đánh giá về hiệu quả và tác động của việc gia tăng mức độ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài là rất quan trọng. Thông qua việc đầu tư vào các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch, các dòng vốn ngoại sẽ tác động đến nhiều mặt của thị trường. Một trong những tác động đáng kể nhất chính là tính thanh khoản của thị trường khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Cho đến nay chưa có sự thống nhất về ảnh hưởng của sở hữu nhà đầu tư nước ngoài lên thanh khoản. Theo nghiên cứu của S.Ghon Rhee, Jianxin Wang (2009) tại thị trường Indonesia và nghiên cứu của Diego A Agudelo (2010) cho thấy sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có mối quan hệ ngược chiều với thanh khoản. Trong khi đó, Hao Jiang, Sheridan Titman, Takeshi Yamada (2012) nghiên cứu thị trường Nhật Bản và nghiên cứu của M.Karmani (2012) lại cho thấy kết quả ngược lại : sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có mối quan hệ cùng chiều với thanh khoản. Còn theo nghiên cứu của Lilian Ng, Fei Wu, Jing Yu, Bohui Zhang (2012) cho thấy việc gia tăng sở hữu trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài làm giảm thanh khoản, trong khi đó, việc gia tăng sở hữu theo danh mục đầu tư lại làm tăng tính thanh khoản. Liệu có sự tác động của mức độ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đến thanh khoản của thị trường hay không ? Nếu tồn tại sự tương quan giữa mức độ sở hữu của nhà đầu tư thì mối tương quan này như thế nào? Đây là một vấn đề rất thú vị và tôi đã lựa chọn để thực hiện bài nghiên cứu của mình. Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu cho bài luận văn là "Cấu trúc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và thanh khoản của thị trường. Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam". TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét sự ảnh hướng của mức độ sở hữu nước ngoài lên tính thanh khoản của cổ phiếu các công ty niêm yết, và xem xét ảnh hưởng ngược lại của thanh khoản đối với tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài. Ứng với hai mục tiêu này, luận văn giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu sau : Mức độ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có phụ thuộc vào tính thanh khoản của thị trường không ? Tính thanh khoản của thị trường có bị ảnh hưởng bởi mức độ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không ? Từ khóa : Liquidity, Foreign ownership, Stock market. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THANH KHOẢN VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI SỞ HỮU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.1 Thanh khoản của cổ phiếu : Theo định nghĩa về mặt tài chính, tính thanh khoản chính là khả năng một loại tài sản được mua bán trên thị trường mà không làm giảm đi giá trị của tài sản đó. Tính thanh khoản của chứng khoán là khả năng người nắm giữ chứng khoán đó có thể bán được nó tại mức giá thị trường hiện tại. Theo lý thuyết thì nhà đầu tư thường thích nắm giữ những loại chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn, vì trong trường hợp cần tiền để thanh toán hay hiện thực hóa lợi nhuận cũng như cắt lỗ thì họ đều có thể chuyển đổi số chứng khoán mình sở hữu ra tiền mặt một cách dễ dàng với một mức giá chấp nhận được. Tính thanh khoản của cổ phiếu được định nghĩa là mức độ mà ở đó cổ phiếu có thể được mua hoặc bán tại cùng một mức giá. Tính thanh khoản đặc trưng bởi hoạt động giao dịch ở mức độ cao. Cổ phiếu được mua hoặc bán dễ dàng được gọi là cổ phiếu có tính thanh khoản cao. Đầu tư vào một cổ phiếu có tính thanh khoản cao sẽ an toàn hơn là đầu tư vào những cổ phiếu có tính thanh khoản thấp, vì nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi khoản đầu tư của mình thành tiền mặt. Trên thị trường chứng khoán, yếu tố được quan tâm nhiều nhất khi nói đến tính thanh khoản của một loại cổ phiếu và của cả thị trường chính là khối lượng giao dịch. Khối lượng giao dịch là số lượng cổ phiếu, chứng khoán được mua và bán trong một phiên (tuần, tháng, …). Một cổ phiếu càng được nhiều người giao dịch đồng nghĩa với nguồn cung và cầu của cổ phiếu đó càng lớn, và việc gặp nhau của hai nguồn cung – cầu này cũng dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, một yếu tố nữa cũng giúp xác định tính thanh khoản của chứng khoán, đó là giá trị giao dịch. Giá trị giao dịch là tổng số tiền nhà đầu tư đã bỏ ra để mua chứng khoán trong phiên. Giá trị giao dịch giúp nhà đầu tư xác định rõ ràng hơn tính thanh khoản của chứng khoán bên cạnh yếu tố khối lượng. Thông thường một chứng khoán có khối lượng giao dịch lớn đi kèm với giá trị giao dịch cũng lớn tương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 ứng thì đó là những chứng khoán có thanh khoản tốt. Tuy nhiên cũng có trường hợp một cổ phiếu được nhà đầu tư giao dịch nhiều nhưng giá trị giao dịch ở mức thấp, điều đó chứng tỏ bên bán đang áp đảo bên mua, nhiều người sẵn sàng bán với giá thấp hơn giá thị trường hiện tại của cổ phiếu với mục đích là nhanh chóng thu hồi vốn. Trong trường hợp này, cổ phiếu không được xem là có tính thanh khoản cao do người nắm giữ đã phải giảm giá trị hiện tại của nó mới có thể bán được. Nói cách khác, khối lượng và giá trị giao dịch phải tương xứng với nhau mới chứng tỏ được một loại chứng khoán nào đó có tính thanh khoản hay không. Theo Rico von Wyss (2004) không có đại lượng cụ thể đo lường tính thanh khoản mà thường được tính bằng tỷ số. Theo Shen và Starr (2002), thanh khoản (theo khía cạnh thị trường tài chính) là khả năng hấp thụ một cách đều đặn các dòng lệnh mua và lệnh bán. Tuy nhiên, thanh khoản bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, nên một định nghĩa đơn giản về thanh khoản trong thị trường tài chính thường là không đầy đủ. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu chú trọng vào chênh lệch giá mua-bán mà bỏ qua nhiều yếu tố khác. Chẳng hạn, Lee, Mucklow & Ready (1993) đã nhấn mạnh sự cần thiết phải thêm đại lượng độ sâu của giá khi xem xét cùng với chênh lệch giá mua và giá bán. Theo nghiên cứu của Rico von Wyss (2004), tính thanh khoản gồm có bốn tiêu chí sau : Thời gian giao dịch (Trading time), độ chặt chẽ (Tightness), độ sâu (Depth), và độ đàn hồi (Resilience). *Thời gian giao dịch : Khả năng thực hiện một giao dịch ngay lập tức tại mức giá hiện hành. Thời gian chờ giữa các giao dịch, số lượng giao dịch trên một đơn vị thời gian được xem như là phương pháp đo lường cho thời gian giao dịch. Các phương pháp đo lường thời gian giao dịch phổ biến là : + Thời gian chờ đợi giữa các giao dịch tiếp theo, + Số lượng giao dịch trên một đơn vị thời gian *Độ chặt chẽ : Khả năng mua và bán một tài sản ở mức giá bằng hoặc xấp xỉ tại cùng một thời điểm. Độ chặt chẽ cho thấy rõ nhất chi phí gắn liền với giao dịch hoặc chi phí để việc mua bán diễn ra nhanh chóng. Độ chặt chẽ được thể hiện thông qua các phiên bản khác nhau của chênh lệch giá mua bán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 *Độ sâu : Khả năng mua hoặc bán một số lượng cổ phiếu nhất định mà không ảnh hưởng đến giá. Một dấu hiệu của tính thanh khoản kém là tác động thị trường đối nghịch đến nhà đầu tư khi giao dịch. Phương pháp đo lường độ sâu cổ phiếu : +Độ sâu của giá; +Tỷ số giao dịch; +Khối lượng giao dịch; +Tỷ số dòng tiền. *Độ đàn hồi : Khả năng mua hoặc bán một số lượng nhất định cổ phiếu mà có ảnh hưởng rất nhỏ lên giá đặt lệnh. Trong khi khía cạnh độ sâu của giá chỉ liên quan đến khối lượng giao dịch tại mức giá đặt mua và bán tốt nhất, thì độ đàn hồi xem xét đến độ co dãn của cung và cầu cổ phiếu. Phương pháp đo lường độ đàn hồi là : +Tỷ suất sinh lợi trong ngày; +Tỷ lệ phương sai Độ sâu của cổ phiếu chỉ đại diện duy nhất cho khối lượng giao dịch tại giá mua tốt nhất và giá bán tốt nhất, độ đàn hồi thể hiện sự co giãn của cung và cầu.2 Một số nghiên cứu về thanh khoản và cấu trúc sở hữu Bài nghiên cứu của C Wei (2010) cho thấy các tổ chức nước ngoài làm cải thiện tính thanh khoản đặc biệt ở cả quốc gia phát triển và đang phát triển. Nguyên nhân một phần là do các tổ chức nước ngoài có được thông tin, và hành vi giao dịch của họ sẽ cạnh tranh với các chủ thể có thông tin khác vì lợi nhuận, làm cho giá phản ánh nhiều thông tin hơn. Lấy dữ liệu từ 90 công ty trên sàn giao dịch chứng khoán Bombay trong giai đoạn 2009-2010, bài nghiên cứu M Karmani (2012) tại Ấn Độ cũng củng cố quan điểm nhà đầu tư tổ chức nước ngoài và hoạt động đầu tư của họ làm tăng thêm tính thanh khoản cho các thị trường chứng khoán mới nổi như Ấn Độ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Theo Stulz (1999), công ty với sở hữu nước ngoài cao sẽ có cơ hội đầu tư rộng hơn các công ty cùng loại.
Nghiên cứu cấu trúc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và thanh khoản thị trường tại Việt Nam
Nghiên cứu cấu trúc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và ảnh hưởng đến thanh khoản thị trường tại Việt Nam qua các bằng chứng thực nghiệm.
Trường đại học
Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCMChuyên ngành
Tài Chính – Ngân HàngNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh TếPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Thái Hoàng Chương
Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Hải Lý
Trường học: Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Đề tài: Cấu Trúc Sở Hữu Của Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Và Thanh Khoản Của Thị Trường
Loại tài liệu: Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế
Năm xuất bản: 2015
Địa điểm: TP. Hồ Chí Minh
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ