CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CẤU TRÚC KHÔNG GIAN VEN ĐÔ CÁC THÀNH PHỐ VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG ĐÔ THỊ SINH THÁI 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Hệ sinh thái tự nhiên Hệ sinh thái là một hệ thống bao gồm các sinh vật tác động qua lại với môi trường bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh dưỡng nhất định đa dạng về loài và các chu trình vật chất[19]. Hệ sinh thái tự nhiên là một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, thường xuyên tạo ra quá trình biến đổi vật chất và năng lượng, có khả năng tự điều chỉnh và đảm bảo ổn định lâu dài theo thời gian. Trong sinh thái tự nhiên xác định gồm hai thành phần chính: thành phần vô sinh là môi trường bao gồm ba yếu tố chính là khí quyển, địa quyển, thủy quyển và thành phần hữu sinh bao gồm các cơ thể sống.
Cấu trúc sinh thái học Bao gồm các mức độ nằm chồng lên nhau theo ba lớp nằm ngang tương ứng với các mức độ tổ chức sinh học khác nhau: từ cá thể đến quần thể và quần xã đến hệ sinh thái[19]. Nguồn sản xuất thứ cấp (thực vật) Nguồn sản xuất cơ bản Nguồn tiêu thụ thứ Môi trường vô cơ: đất, cấp (vi trùng) nước, không khí, mỏ Môi trường vô cơ khác: Nguồn tiêu thụ đất, nước, không khí, mỏ thứ cấp (vi trùng, nấm) Hình 1.1: Chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái[19] 3. Sinh thái đô thị và đô thị sinh thái - Sinh thái đô thị: Sinh thái học đô thị xác định bao gồm các thành phần tương tác với nhau giữa hệ sinh thái tự nhiên, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công trình đô thị và môi trường nơi con người sinh sống. Hệ sinh thái đô thị là hệ thống chức năng đô thị (như làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi) được cấu trúc theo không gian, thời gian và theo một quy luật nhất định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Hệ sinh thái đô thị hoạt động bằng mối quan hệ khăng khít giữa các chức năng đô thị thông qua con người và đồng thời chịu tác động trực tiếp qua lại với các hệ sinh thái khác như hệ sinh thái nông thôn, hệ sinh thái tự nhiên cận kề với nó. Các thành phần trong hệ sinh thái đô thị bao gồm: + Thành phần hữu sinh: bao gồm con người và các loài sinh vật trong môi trường đô thị. + Thành phần vô sinh: bao gồm môi trường đô thị, môi trường tự nhiên như đất, nước, không khí… và các yếu tố khác. + Thành phần công nghệ: bao gồm hệ thống hạ tầng kỹ thuật, các công trình… - Thành phố sinh thái, đô thị sinh thái: Có rất nhiều khái niệm và nguyên tắc cho một đô thị sinh thái, cơ bản nhất trong đô thị sinh thái là tạo một môi trường trong đó đảm bảo sự cân bằng về nguồn tài nguyên và năng lượng tiêu thụ so với năng lực sinh thái vốn có và khả năng phục hồi.
Theo Tiêu chuẩn hệ thống khung đô thị sinh thái thế giới (IESF) như sau: + Thành phố sinh thái (Ecocity): là một khu định cư của con người theo mô hình tự duy trì đàn hồi cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái tự nhiên. Mục tiêu là tạo ra một cuộc sống công bằng, hạnh phúc trong đó không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái bản thân và hệ sinh thái lân cận, nguồn tài nguyên sử dụng và chất thải sản sinh ra phải cân bằng với tài nguyên phục hồi, tái chế. + Đô thị sinh thái (Ecopolis): là một cụm các thành phố sinh thái, thị trấn và làng mạc với không gian mở ở giữa, trong đó bao gồm hệ thống sông, kênh rạch, môi trường tự nhiên, nông nghiệp và đất rừng liền kề nối với nhau bằng giao hệ thống giao thông công cộng và hệ thống giao thông xanh như đi bộ hoặc xe đạp. Cấu trúc không gian ven đô Cấu trúc không gian ven đô là nghiên cứu tổng thể các thành phần và yếu tố kết nối giữa các thành phần không gian ven đô theo nhiều hình thức khác nhau.
Các thành phần của không gian ven đô bao gồm không gian làng xã, nông nghiệp, cây xanh; các yếu tố thiên nhiên như địa hình, mặt nước; các trang trại, các khu sinh thái. Yếu tố kết nối của không gian ven đô bao gồm giao thông, cây xanh, vành đai xanh, sông hồ, vùng nông nghiệp, nông thôn. Cấu trúc không gian đô thị là yếu tố LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 kết nối trong phạm vi lớn hơn bao gồm vùng ven đô, trung tâm thành phố, thị trấn và các vùng sinh thái tự nhiên… 1.2 Tổng quan cấu trúc không gian ven đô, đô thị sinh thái 1.1 Tổng quan lý thuyết không gian ven đô 1.1 Cấu trúc không gian ven đô các đô thị trên thế giới Trên thế giới cấu trúc đô thị bao gồm vùng trung tâm thành phố, vùng ngoại ô xung quanh và bên ngoài là vùng nông thôn. Sự phát triển mở rộng thành phố làm thay đổi quy mô vùng trung tâm và vùng ngoại ô, xuất hiện các trung tâm mới và các mối quan hệ mới trong cấu trúc.
Trong hình A (Hình 1.2) cho thấy cấu trúc truyền thống của đô thị, hình B (Hình 1.2) xuất hiện một cấu trúc mới trong đó vùng ngoại ô được chia thành vùng ngoại ô bên trong và ngoại ô bên ngoài. Ở vùng ngoại ô bên ngoài xuất hiện các trung tâm mới và được mở rộng ra khu vực nông thôn. Trung tâm thành phố phân chia thành khu phố lõi (cổ) và vùng nội thành[82]. Sự thay đổi về cấu trúc này tác động đến vùng tiếp giáp giữa đô thị và nông thôn tạo ra vùng ven đô.2: Cấu trúc không gian đô thị trong quá trình phát triển[82] Khái niệm vùng ven đô (periurban) được ghép từ “peripheral” (ngoại vi) và “urban” (đô thị) là một khái niệm mang tính khái quát, mềm dẻo gắn liền với quá trình đô thị hóa nhằm xác định lại ranh giới của đô thị[28],[14],[42].
Vùng ven đô là một thành phần trong cấu trúc đô thị, được xác định là vùng chuyển tiếp hoặc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tương tác giữa vùng ngoại ô đến vùng nông thôn[61]. Ranh giới vùng ven đô có thể thay đổi tùy theo cấu trúc không gian của đô thị trong quá trình phát triển nhưng vẫn phải nằm trong phạm vi giao thông và tác động của thành phố[71],[68]. Vùng ven đô là vùng có tốc độ đô thị hóa cao trong quá trình mở rộng đô thị, quá trình này chủ yếu làm thay đổi cấu trúc về sử dụng đất đai, tăng mật độ dân cư và thay đổi cơ cấu việc làm[87],[60],[68],[61]. Trong quá trình phát triển vùng ven đô được chia thành nhiều vành đai khác nhau tùy theo khoảng cách và phạm vi ảnh hưởng của thành phố.
Vành đai đầu tiên có thể được xác định đó là vùng ngoại ô có mật độ xây dựng cao và các vành đai tiếp theo bao gồm thị trấn thứ cấp, làng mạc với mật đô dân cư ít hơn[71]. Trong phạm vi vùng đô thị lớn, vùng ven đô không chỉ ở vị trí xung quanh thành phố chính mà còn ở xung quanh các thành phố nhỏ, vùng ven có mối liên hệ và tác động với nhau bằng hệ thống giao thông tạo ra các vùng ven đô hỗn hợp[68].3: Khái niệm và thuật ngữ về không gian sinh thái vùng ven đô[77] Như vậy có thể thấy trong cấu trúc đô thị của các nước Châu Âu nói chung, ranh giới đô thị được xác định cơ bản thành các vùng bao gồm: thành phố, vùng ngoại ô, vùng ven đô và vùng nông thôn. Cách xác định trên tương đối rõ ràng khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 các đô thị đã nằm trong giới hạn ổn định. Tuy nhiên, trong quá trình mở rộng đô thị, vùng ven đô được xác định là vùng chuyển tiếp giữa thành phố và nông thôn, vùng ven đô cũng có thể là vùng ngoại ô xung quanh thành phố.
Tại khu vực Châu Á, theo nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, để xác định vùng ven đô theo một địa giới hành chính rõ ràng là rất khó. Theo một nghĩa rộng, vùng ven đô được xác định là vùng mở rộng đô thị trong quá trình đô thị hóa. Về mặt địa giới hành chính có thể thấy vùng ven đô các thành phố Đông Nam Á là quá trình tái lãnh thổ hóa do nhà nước quyết định[28]. Quá trình này đang diễn ra ở Jabotabek, Jakarta, Calabarzon ở Manila, hay khu vực thủ đô Bankok, Thái Lan.
Tại Bắc Kinh từ năm 1980 quá trình đô thị hóa vùng ven đô diễn ra nhanh chóng và là một cuộc chuyển hóa từ nông thôn sang đô thị trên nhiều khía cạnh. Chuyển đổi nền kinh tế nông thôn, cơ cấu việc làm và sử dụng đất. Sự thay đổi này diễn ra trong quá trình dài dẫn đến việc chuyển đổi lan rộng đến các vùng nông thôn xa hơn và tạo ra các vùng ven đô khác nhau.4a) theo quản lý hành chính vùng II được xác định là vùng ngoại ô bên trong nhưng được chia thành các vùng ven đô mở rộng dần theo từng giai đoạn (Hình 1.4: a) Phạm vi hành chính Bắc Kinh; b) Quá trình mở rộng vùng ven đô từ năm 1982 đến năm 2008[73] 1.2 Xác định không gian ven đô các thành phố vùng Bắc Trung Bộ Tại Việt Nam trong luật chưa quy định ranh giới vùng ven đô, trong các thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tại các thành phố vùng Bắc Trung Bộ, theo quản lý hành chính trung tâm thành phố (nội thành) bao gồm các phường chủ yếu là đất đô thị với mật đô dân cư cao, tỷ lệ đất nông nghiệp rất ít.
Đối với khu vực ngoại thành bao gồm các xã với tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm phần lớn (thậm chí đạt đến 100%). Các thành phố này tồn tại một cấu trúc đặc trưng đan xen giữa đô thị và nông thôn theo nhiều dạng khác nhau (theo vành đai bao bọc, theo tuyến hoặc đan xen) khác hẳn với các thành phố trên thế giới vốn đã ổn định trong việc xác định ranh giới một cách tương đối rõ ràng. Quá trình mở rộng và đô thị hóa làm thay đổi quy mô vùng nội thành, đẩy vùng ngoại thành ra xa hơn đồng nghĩa phải sát nhập thêm vùng nông thôn vào trong đô thị. Như vậy ranh giới giữa vùng nội thành, ngoại thành và nông thôn luôn thay đổi về cấu trúc không gian, chức năng và phạm vi quản lý hành chính.
Do đó cần đề xuất khái niệm không gian ven đô cho các thành phố này một cách phù hợp và xét đến phạm vi có thể mở rộng trong tương lai phục vụ cho công tác nghiên cứu quy hoạch và phát triển đô thị.