Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạy học chương II: Cảm ứng và chương IV: Sinh sản - Sinh học 11, trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Khoa học về đo lường đánh giá trong giáo dục bắt đầu cách đây hơn một thế kỷ được bắt đầu ở châu Âu từ đầu thế kỷ 20, cho đến nay đã phát triển mạnh và có nhiều thành công trong lĩnh vực đo lường, đánh giá trong giáo dục. Năm 1904 Alfred Binet – một nhà tâm lí học người Pháp cùng với cộng sự đã phát minh ra bài trắc nghiệm về chỉ số thông minh (IQ) và tiếp tục được hoàn thiện vào năm 1916 khi Alfred Binet và Lewis Terman (Người Mĩ) kết hợp với nhau.
Bài trắc nghiệm nhằm xác định chỉ số IQ của họ nhanh chóng được phổ biến áp dụng ở nhiều quốc gia. Ở Mỹ, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào năm 1923. Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy năm 1935, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ. Từ đó đến nay khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình, đóng góp đối với khoa học này xuất hiện thường xuyên làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn.
Hiện nay ở Mỹ ước tính mỗi năm số lượt trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá cỡ 1/4 tỷ và trắc nghiệm do giáo viên soạn lên đến con số 5 tỷ Đến những thập niêm 30, 40 của thế kỉ XX, các nhà xuất bản trắc nghiệm ra đời ở các nước phát triển, tại Hoa Kỳ xuất hiện nhiều hệ thống TNKQ dùng để đánh giá kết quả học tập của HS. Vào đầu thế kỉ XX, E. Thormdile là người đầu tiên dùng TNKQ như một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để xác định trình độ của học sinh ở môn Số học, rồi sau đó tới các môn khác. Giữa thế kỉ XX, TNKQ còn được thiết kế ở những bài chuyên ngành có tính kinh doanh.
Cuối thế kỉ XX, nhờ những tiến bộ của công nghệ thông tin mà người ta đã kết hợp cài đặt nên các chương trình xử lý kết quả TNKQ. Năm 1964 xuất hiện công trình nghiên cứu của Gerberich dùng máy tính điện tử xử lý các bài trắc nghiệm trên diện rộng.Vào thời điểm đó ở Anh đã có Hội đồng quốc gia, hàng năm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết định các trắc nghiệm chuẩn trong trường. Đề thi cho các kỳ thi tuyển đại học được Mỹ, Nhật, Thái Lan. sử dụng toàn bộ bằng phương pháp TNKQ, Trung Quốc cũng đã sử dụng phương pháp TNKQ vào các kỳ thi tuyển sinh từ nhiều năm nay.
Trong lĩnh vực Sinh học cũng có các tác giả chủ biên về từng lĩnh vực. Ví dụ như tác giả Doulags Sawyer chủ biên về Tế bào học, đề cập tới cấu trúc hay chức năng của màng tế bào, sự vận chuyển các chất qua màng…. Trong lĩnh vực Di truyền học đáng chú ý là các ông trình của Janice Finkelstein, Golder Wilson về bài trắc nghiệm trước khi vào học giáo trình (pre-test) dùng cho sinh viên y khoa tự ôn tập, tự đánh giá khi học Di truyền người. Trong nhiều năm qua, để đo mức độ hiểu biết của học sinh phần lí thuyết và thực hành, người ta cũng áp dụng TNKQ trong các kì thi Olympic quốc tế về Sinh học (IBO).
Với hình thức này đã thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo các nước tham gia và nó đã tỏ ra có nhiều ưu điểm trong khi chấm bài, làm bài. Với nhiều ưu điểm nổi bật của hình thức TNKQ, hình thức này đã được phổ biến ở nhiều nước, đặc biệt trong trường học nó đã trở thành một công cụ để kiểm tra trên lớp, để học sinh tự kiểm tra kiến thức, ngay cả ở các chương trình đào tạo từ xa khi mà người học nhận và gửi thông tin bài làm qua vi tính. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Khoa học về đo lường và đánh giá trong giáo dục ở nước ta trong tình trạng lạc hậu và phát triển chậm hơn một số nước đang phát triển khác. Trước năm 1975, ở Miền Nam nước ta có một vài người được đào tạo về khoa học này từ các nước phương Tây.
Vào năm 1974, kỳ thi tú tài lần đầu tiên được tổ chức ở Miền Nam bằng phương pháp TNKQ. Tuy nhiên từ năm 1990 trở lại đây, TNKQ thực sự nhận được sự quan tâm. Năm 1994, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với Viện công nghệ hoàng gia Melbourne (Australia) tổ chức hội thảo với chủ đề “Kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ” tại Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và Hà Nội. Năm 1995, trường Đại học Tổng hợp cũng đã mở lớp tập huấn cho nhiều giảng viên về phương pháp xây dựng TNKQ.
Tại các trường ĐH, việc sử dụng câu hỏi TNKQ diễn ra rộng rãi, đặc biệt là ĐH Huế vào năm 1993 triển khai soạn thảo câu hỏi TNKQ cho từng chuyên ngành, đồng thời có các nghiên cứu cho sự kiểm định các câu hỏi đó ví dụ như các đóng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com góp của GS. Nguyễn Phụng Hoàng (ĐH Sư phạm Huế). Vào những năm này, TS. Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ để kiểm tra hiệu quả của phương pháp giảng dạy tích cực ở trường phổ thông bằng bài toán nhận thức” đã khẳng định được tác dụng lớn lao của TNKQ trong đánh giá kết quả học tập.
Năm 1996, 1997 trong các tài liệu “ Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu bồi dưỡng dạy SGK lớp 12 cải cách giáo dục môn Sinh học”, ông đã nhiều lần nhắc đền TNKQ, soạn các câu hỏi với 3 phương án lựa chọn giúp GV có ngân hàng câu hỏi giúp HS ôn tập, củng cố kiên thức. Các tác giả Lê Đình Trung, Trịnh Nguyên Giao (ĐH Sư phạm Hà Nội), Nguyễn Viết Nhân (ĐH Y khoa TP Hồ Chí Minh), Trần Hồng Hải đã cho ra đời những bộ sách với những câu hỏi soạn sẵn tạo nhiều thuận lợi cho GV và HS áp dụng trong KTĐG. [10] TNKQ dần được đưa vào sử dụng ở nhiều bộ môn ngoại ngữ, hóa học, vật lý, sinh học….trong các kì thi lớn. Có rất nhiều công trình liên quan đến đề tài như: “Luận án tiến sĩ: Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan MCQ để nâng cao chất lượng dạy học môn di truyền ở trường Cao đẳng Sư phạm” (Vũ Đình Luận, 2005), “Vấn đề xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng trong đo lường kết quả học tập môn Sinh 10” (Phạm Thị Phương, 2008), “Nghiên cứu, xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 12” (Tạ Thị Hiền, 2009),… Các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về xây dựng câu hỏi TNKQ, song chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lí luận, qui trình xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ dùng trong dạy học kiến thức mới và đánh giá kết quả học tập môn Sinh học 11.
Cơ sở lí luận của câu hỏi trắc nghiệm khách quan 1. Khái niệm trắc nghiệm Trắc nghiệm là một loại công cụ đo lường, là phép lượng giá cụ thể mức độ khả năng thể hiện hành vi của một người nào đó, trong một lĩnh vực nào đó. Theo tác giả Lâm Quang Thiệp [24], có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm theo các hình thức sau: Trắc nghiệm quan sát, trắc nghiệm viết, trắc nghiệm vấn đáp. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trắc nghiệm quan sát: Giúp xác định những thái độ, những phản ứng vô thức, những kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu.
- Trắc nghiệm vấn đáp: Có tác dụng tốt khi nêu lên các câu hỏi phát sinh trong một tình huống cần kiểm tra. Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn,… - Trắc nghiệm viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau: + Cho phép kiểm tra cùng lúc nhiều học sinh. + Cho phép học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời. + Đánh giá được khả năng tư duy ở mức độ cao.
+ Dễ quản lý hơn vì bản thân người chấm không tham gia vào bối cảnh kiểm tra. Trắc nghiệm viết thường được chia thành hai nhóm: Trắc nghiệm tự luận (Essay) và trắc nghiệm khách quan (Objective test). Các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan a. Trắc nghiệm loại “Đúng - Sai” Câu "đúng - sai" được trình bày dưới dạng câu phát biểu và thí sinh sẽ trả lời bằng cách lựa chọn đúng hoặc sai.
Ưu điểm: - Cho phép kiểm tra phổ kiến thức rộng trong một thời gian ngắn. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Dễ biên soạn. - Đảm bảo tính khách quan khi chấm. Nhược điểm: - Khả năng đoán mò cao, do đó khó nhận ra yếu điểm của học sinh.
- Có độ tin cậy thấp. - Khó dùng với các môn khoa học xã hội nhân văn. - Khuyến khích học thuộc lòng hơn là thông hiểu. Trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời cho mỗi câu hỏi (MCQ) Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất.
Loại này thường có hai phần: phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi; phần sau là các phương án để chọn thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D hoặc các số 1, 2, 3, 4. Trong các phương án đã chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu, còn gọi là câu mồi. Do vậy khi các câu lựa chọn được chuẩn bị tốt thì một người không có kiến thức chắc chắn về vấn đề đó sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu. Ưu điểm: - Đo được nhiều khả năng tư duy khác nhau.
- Độ tin cậy cao hơn, yếu tố đoán mò may rủi giảm đi so với loại trắc nghiệm khách quan khác khi số phương án lựa chọn tăng lên. - Tính giá trị cao hơn. - Đảm bảo tính khách quan khi chấm. Nhược điểm: - Khó soạn câu hỏi.