Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 2: Những vấn đề lý luận về Doanh nghiệp xã hội và pháp luật về doanh nghiệp xã hội Chương 3: Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội và thực tiễn áp dụng pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án DNXH là chủ thể được công nhận từ rất lâu ở các nước trên thế giới. Vì thế, các nghiên cứu chuyên sâu về mô hình này cũng hình thành từ rất sớm, khoảng nửa cuối những năm 90. Với những ưu điểm không thể nào bác bỏ và với những đóng góp cho cộng đồng, mô hình DNXH đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng, có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau đây: 1.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến khái niệm, đặc điểm, vai trò của Doanh nghiệp xã hội - Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài: + Khi nghiên cứu các tài liệu nước ngoài về DNXH, không thể không nhắc đến nghiên cứu “The Meaning of Social Entrepreneurship” của Gregory Dees được viết lần đầu năm 1998, bản chỉnh sửa gần đây nhất vào năm 2011 nói về Ý nghĩa của tinh thần doanh nhân xã hội [103] [104]. Trong nghiên cứu này, ông đã chỉ ra rằng, những nỗ lực của chính phủ và các tổ chức từ thiện đã không đạt được những gì mà xã hội kỳ vọng; các trung tâm xã hội cũng không chứng tỏ được hiệu quả. Ngược lại, các doanh nhân xã hội ngày càng chứng tỏ vai trò to lớn trong việc phát triển các mô hình mới cho một thế kỷ mới. Khái niệm “tinh thần doanh nhân xã hội” (TTDNXH - social entrepreneurship) có thể mới mẻ, nhưng bản thân hiện tượng này thì không.
Các doanh nhân xã hội đã luôn hiện diện, dù chúng ta có thể gọi họ bằng cái tên này hoặc cái tên khác. Tuy nhiên, việc đưa ra một khái niệm mới là rất quan trọng, vì ngoài các hoạt động phi lợi nhuận mang tính sáng tạo, TTDNXH có thể bao gồm các dự án kinh doanh xã hội và các tổ chức lai trong đó trộn lẫn các yếu tố phi lợi nhuận và vị lợi nhuận. Để mở rộng sân chơi dành cho TTDNXH, chúng ta cần đưa ra một cách định nghĩa phù hợp. Từ cách dẫn dắt đó, G.
Dees đã đưa ra các lý thuyết về tinh thần doanh nhân. Cụ thể, theo quan điểm của một vài học giả nổi tiếng trước đó cho rằng “doanh nhân” không nhất thiết là những người tạo ra sự thay đổi, tuy nhiên họ phải luôn luôn “tìm kiếm sự thay đổi, đáp ứng và khai thác nó như một cơ hội”. Khái niệm "cơ hội" đã trở thành trụ cột của nhiều định nghĩa về TTKD hiện nay. Doanh nhân là những người có thiên hướng nhìn nhận sự thay đổi là cơ hội chứ không phải là rắc rối.
Đồng thời, đối với một doanh nhân, khởi nghiệp là không nhất thiết và cũng không đủ, có nghĩa là không phải mọi doanh nghiệp đều có thể đại diện cho TTDN. Drucker cũng chỉ rõ rằng hoạt động kinh doanh được nói đến ở đây không đòi hỏi động cơ lợi nhuận. Dees cũng so sánh sự khác nhau giữa doanh nhân xã hội và doanh nhân thông thường. Theo đó, nếu doanh nhân thông thường với mục tiêu là tạo ra của cải vật chất cho xã hội, từ đó tìm kiếm và tối đa lợi nhuận thu về; Thì đối với các doanh nhân xã hội, sứ mệnh xã hội là rõ ràng và thống trị.
Sứ mệnh xã hội ảnh hưởng đến cách các doanh nhân xã hội nhận thức và đánh giá các cơ hội. Tiêu chí trung tâm ở đây là những tác động liên quan đến sứ mệnh đó, chứ không phải là việc tạo ra của cải. Với các doanh nhân vị lợi nhuận, của cải là một cách để đo lường giá trị được tạo ra; đó là bởi họ phải tuân theo quy luật thị trường. Nếu họ không thuyên chuyển các nguồn lực để sử dụng một cách có hiệu quả kinh tế, họ sẽ gặp phải nguy cơ bị loại khỏi vòng xoáy kinh doanh.
Ví dụ, nếu một doanh nhân không thể thuyết phục được đủ số lượng khách hàng trả một mức giá hợp lý để tạo ra lợi nhuận, thì đây là một dấu hiệu cho thấy rằng không có đủ giá trị được tạo ra để biện minh cho việc sử dụng các nguồn lực này. Tuy nhiên, thị trường không tạo thuận lợi cho các doanh nhân xã hội. Trong trường hợp cụ thể, thị trường không làm tốt công tác đánh giá các cải thiện xã hội, hàng hoá công cộng và các thiệt hại cùng lợi ích cho những người không có khả năng chi trả. Những yếu tố này thường rất cần thiết cho việc kinh doanh xã hội, và đó cũng chính là điều làm cho một doanh nhân trở thành một doanh nhân xã hội.
Thực tế, rất khó xác định liệu một doanh nhân xã hội đang tạo ra giá trị xã hội đầy đủ để biện minh cho các nguồn lực được sử dụng trong việc tạo ra giá trị đó. Sự duy trì hoặc tăng trưởng của một DNXH chỉ là một bằng chứng rất yếu ớt về sự hiệu quả trong việc cải thiện các điều kiện xã hội. Cuối cùng, ông tổng kết để đưa ra khái niệm về tinh thần doanh nhân xã hội, trong đó hội tụ từ rất nhiều các quan điểm của các học giả nổi tiếng trước đó. Cụ thể, ông đưa ra một khái niệm tinh thần doanh nhân xã hội bao gồm các tiêu chí đó là: Doanh nhân xã hội đóng vai trò nhân tố đổi mới trong các lĩnh vực xã hội, bằng cách: thông qua một sứ mệnh để tạo ra và duy trì giá trị xã hội; nhận thức và không ngừng theo đuổi các cơ hội mới để phục vụ cho sứ mệnh đó; tham gia vào các quá trình đổi mới liên tục, thích nghi và rút ra bài học; hoạt động mạnh mẽ và không bị giới hạn vào nguồn lực sẵn có; và thể hiện trách nhiệm giải trình cao hơn đối với thành viên và đối với kết quả đầu ra.
The meaning of social entrepreneurship của Gregory Dees được coi là một trong những nghiên cứu đầu tiên trên thế giới tách bạch DNXH ra khỏi các mô hình doanh nghiệp truyền thống khác. Cũng từ đó, ông xuất bản thêm hai cuốn sách và rất nhiều bài báo khác về chủ đề này – là những công trình nền móng có đóng góp to lớn đối với việc tiếp cận các vấn đề lý luận về DNXH ngày nay [104], trong đó phải kể đến mô hình phổ DNXH sẽ được tác giả sử dụng nghiên cứu, đề cập trong luận án (phần lý luận) 8 + Trong cuốn sách nổi tiếng “The power of unreasonable people” của hai tác giả John Elkington và Pamela Hartigan năm 2008, giáo sư trường Đại học Cambridge Publishing, Vương quốc Anh [101], đã có bản dịch tiếng Việt “Sức mạnh của những người phi lý” [30] đã miêu tả sự trỗi dậy của một thế hệ những người tạo ra sự thay đổi, những người không chấp nhận thế giới như trong thực tại, những người biết họ có thể làm được điều gì, và họ bắt tay vào làm việc. Trong cuốn sách này, các tác giả đã đưa ra rất nhiều các câu chuyện dẫn chứng về lịch sử hình thành cũng như con đường mà phong trào DNXH được thừa nhận ở các nước phát triển châu Âu như Đức, Pháp. Đặc biệt, trong nghiên cứu này, dễ dàng nhận thấy yếu tố then chốt khiến phong trào DNXH được thúc đẩy lan rộng một cách nhanh chóng trên thế giới đó là việc dịch chuyển các chức năng xã hội từ phía chủ thể công sang các chủ thể tư và các chủ thể thứ ba (còn được biết đến là các chủ thể trong hệ sinh thái xã hội dân sự).
+ Nghiên cứu “How to change the world: Social entrepreneurs and the power of New Ideas”, Oxford University Press, 2007 của tác giả David Bornstein [88] nhận định rằng DNXH sẽ là những mô hình giải quyết hiệu quả các vấn đề xã hội đồng thời làm thay đổi bộ mặt thế kỷ 21. Trong đó, tác phẩm cũng thể hiện quan điểm cá nhân về khái niệm DNXH đã mở rộng và mở ra như thế nào trong vài năm gần đây, gồm quan hệ đối tác từ thiện Gates-Buffetts, sự gia tăng của Google và sự lan rộng của các tổ chức kinh tế có hoạt động từ thiện thường xuyên. Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho hoạt động so sánh các quan điểm về DNXH. + Luận án cũng không thể không tham khảo nghiên cứu “The role of social enterprise and hybrid organizations” của học giả Ofer Eldar đến từ trường đại học Yale law school, Mỹ [122], nghiên cứu này đã đưa ra được một cách định nghĩa rất cẩn trọng và khoa học cho khái niệm DNXH.
Trong nghiên cứu này, Elder đã tiếp cận khái niệm DNXH một cách thuyết phục và có hệ thống bằng cách sử dụng phương pháp định nghĩa qua loại gần nhất và khác/ biệt chủng. Ông chọn khái niệm xuất phát là doanh nghiệp thương mại, từ đó định nghĩa tổ chức lai và cuối cùng chạm đến khái niệm DNXH. Nghiên cứu cũng chỉ ra cơ hội và thách thức của DNXH, đồng thời đưa ra các đề xuất phục vụ các DNXH Hoa Kỳ trong việc quản trị doanh nghiệp và lựa chọn mô hình pháp lý phù hợp theo pháp luật hiện hành. + Nghiên cứu “The role of social enterprise” của 02 học giả Robert Katz và Antony Page từ đại học Ấn Độ [131] phân tích về vai trò của các loại hình DNXH.
Theo đó, nghiên cứu đưa ra ba phần rõ ràng. Thứ nhất là chỉ rõ vai trò của các tổ chức phi lợi nhuận và các DNXH đối với pháp luật và nền kinh tế. Theo đó; Ở các nước phát triển, thị 9 trường hoạt động khá tốt trong việc phân phối hàng tiêu dùng (chẳng hạn như TV, điện thoại) cho hầu hết mọi người tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân tối thiểu. Tuy nhiên, thị trường có ít nhất hai sai sót nghiêm trọng, khiến cho nó không phải công cụ hiệu quả nhằm cải thiện phúc lợi xã hội và hạnh phúc của con người nói chung (một là, có thể dự đoán được là thị trường sẽ không cung cấp đầy đủ các hàng hóa công cộng; hai là các thị trường tự do thường khó giải quyết sự bất bình đẳng về tài sản và các nguồn lực khác giữa những người khác nhau).