Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ma Thị Nga (chuyên ngành Quản lý đất đai, Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2018) đi sâu vào công tác quản lý nhà nước về đất đai tại cơ sở, cụ thể là quy trình và kết quả cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).

Về bối cảnh thực tiễn, đất đai là tài nguyên giới hạn và tài sản quan trọng của quốc gia. Quá trình phát triển kinh tế thị trường, đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng đã làm gia tăng áp lực chuyển đổi đất nông nghiệp, dẫn đến nhiều biến động phức tạp trong việc phân bổ quỹ đất. Nhằm hoàn thiện công cụ quản lý, hệ thống pháp luật đất đai của Việt Nam đã liên tục điều chỉnh qua các thời kỳ: Luật Đất đai năm 1988, Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung các năm 1998, 2001), Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014). Theo quy định tại khoản 7 Điều 22 Luật Đất đai năm 2013, công tác đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một trong 15 nội dung quản lý nhà nước quan trọng nhằm xác lập căn cứ pháp lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất và giúp Nhà nước kiểm soát quỹ đất.

Địa bàn nghiên cứu là xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nằm cách trung tâm thành phố Việt Trì 80 km về phía Tây Bắc. Trong giai đoạn nghiên cứu, nhu cầu sử dụng đất tại xã biến động liên tục; nhiều thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ lần đầu hoặc cần cấp đổi, điều chỉnh do quy hoạch hạ tầng làm thay đổi diện tích và hình thể. Đặc biệt, xã Vinh Tiền nằm trong nhóm 11 xã miền núi của huyện Tân Sơn chưa được thực hiện dự án đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy, khiến công tác xác nhận nguồn gốc và lập hồ sơ địa chính gặp nhiều rào cản kỹ thuật.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình cấp GCNQSDĐ tại xã Vinh Tiền.
  2. Nắm vững các quy định pháp luật của Nhà nước về công tác cấp GCNQSDĐ theo Luật Đất đai năm 2013; làm rõ trình tự, thủ tục hành chính cấp giấy cụ thể áp dụng trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  3. Rút ra bài học kinh nghiệm chuyên môn, đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào công tác cấp mới GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân tại 8 khu hành chính (xóm) thuộc xã Vinh Tiền.
  • Phạm vi thời gian và địa điểm: Số liệu đánh giá tập trung vào giai đoạn 2016 – 2017; địa điểm thu thập tài liệu và thực tập thực tế tại Công ty Cổ phần Tài nguyên và Môi trường Phương Bắc, UBND xã Vinh Tiền và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Sơn (thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 10/2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu đánh giá thực tiễn quản lý hành chính và nghiệp vụ địa chính. Cơ sở lý thuyết và pháp lý của đề tài được xây dựng trên hệ thống khái niệm chuyên ngành và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Cơ sở khoa học và khái niệm: Tác giả vận dụng 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013; các khái niệm chuyên ngành địa chính (theo giáo trình của Nguyễn Thị Lợi, 2007) về đăng ký đất đai, đăng ký ban đầu, đăng ký biến động, đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất được căn cứ theo Điều 688 Bộ luật Dân sự, quyền sở hữu nhà ở theo Điều 181 Bộ luật Dân sự và định nghĩa GCNQSDĐ theo khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương:
    • Luật Đất đai năm 2013 (ngày 29/11/2013, hiệu lực từ ngày 01/7/2014);
    • Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai (đặc biệt là Điều 19 về các trường hợp không cấp GCN và Điều 70 về trình tự, thủ tục cấp GCN lần đầu tại cấp xã);
    • Nghị định số 44/2014/NĐ-CP về giá đất;
    • Nghị định số 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất (Điều 2 về đối tượng nộp tiền, Điều 11 về các trường hợp miễn tiền, Điều 12 về các trường hợp giảm tiền sử dụng đất cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số);
    • Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
    • Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
    • Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (quy định mẫu giấy 4 trang, kích thước 190mm x 265mm, nền hoa văn trống đồng màu hồng cánh sen, phôi seri bắt đầu từ BA000001);
    • Các Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT (hồ sơ địa chính), Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT (bản đồ địa chính) và Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT (thống kê, kiểm kê đất đai).
  • Văn bản pháp lý của địa phương (tỉnh Phú Thọ):
    • Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND ngày 10/9/2014 của UBND tỉnh Phú Thọ: Điều 3 quy định hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân tại các xã miền núi tối đa không quá 400 m²; Điều 4 quy định hạn mức công nhận đất ở tại các xã miền núi là 100 m²/khẩu;
    • Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND quy định bảng giá đất 5 năm (2015 – 2019) trên địa bàn tỉnh Phú Thọ;
    • Quyết định số 39/2016/QĐ-UBND quy định hệ số điều chỉnh giá đất năm 2017 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng bao gồm:

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản pháp luật và văn bản dưới luật: Phân tích, hệ thống hóa các đạo luật, nghị định, thông tư và quyết định của tỉnh làm chuẩn mực đối chiếu quy trình nghiệp vụ.
  2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu:
    • Thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp nhận báo cáo thống kê, tài liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, số liệu kiểm kê đất đai năm 2013 và 2017 tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Sơn, UBND xã Vinh Tiền và Công ty Cổ phần Tài nguyên và Môi trường Phương Bắc.
    • Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành khảo sát, điều tra trực tiếp hiện trường đối với từng thửa đất nhằm kiểm tra ranh giới, hình thể, diện tích và mục đích sử dụng thực tế của các hộ gia đình nộp hồ sơ.
  3. Phương pháp phân tích, tổng hợp và viết báo cáo: Xử lý các nguồn số liệu điều tra, lập bảng đối chiếu kết quả kê khai, phân loại hồ sơ đủ điều kiện và không đủ điều kiện theo từng xóm, từ đó hoàn thiện báo cáo khóa luận.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận được triển khai thành 5 phần chính theo cấu trúc học thuật của Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên:

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của công tác quản lý nhà nước về đất đai trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ các văn bản Luật Đất đai giai đoạn trước đến Luật Đất đai năm 2013, khẳng định cấp GCNQSDĐ là cơ sở pháp lý cao nhất xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp, bảo vệ lợi ích của người dân và giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ quỹ đất. Tác giả nêu rõ vị trí địa lý của xã Vinh Tiền (cách thành phố Việt Trì 80 km), các biến động đất đai thực tế trên địa bàn, mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài đối với cả phương diện học tập lẫn thực tiễn quản lý địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương này tập trung tổng kết cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về cấp GCNQSDĐ, bao gồm 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai (Điều 22 Luật Đất đai năm 2013), các khái niệm về đăng ký đất đai ban đầu và đăng ký biến động, thẩm quyền cấp giấy theo Điều 105 Luật Đất đai năm 2013, và quy định cụ thể của tỉnh Phú Thọ tại Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND về hạn mức giao đất ở (xã miền núi tối đa 400 m²) và công nhận đất ở (100 m²/khẩu).

Bên cạnh lý thuyết, chương này thống kê số liệu tổng quan về tiến độ cấp giấy:

  • Cả nước: Đến tháng 01/2014, diện tích đất nông nghiệp được cấp giấy đạt 85,20%, nuôi trồng thủy sản đạt 83,80%, lâm nghiệp đạt 86,30%, đất ở nông thôn đạt 64,30%. Đến năm 2016, cả nước đã đo đạc bản đồ địa chính đạt trên 70% diện tích tự nhiên, cấp 41,6 triệu GCN với hơn 22,9 triệu ha (tỷ lệ đất nông nghiệp đạt 90,1%, lâm nghiệp 98,1%, thủy sản 85,1%, đất ở nông thôn đạt 94,4%); có 121/709 đơn vị cấp huyện vận hành cơ sở dữ liệu đất đai.
  • Tỉnh Phú Thọ: Tính đến 30/9/2014, tỉnh đã cấp được 4.906 GCN cho các tổ chức với diện tích 822,18 ha (đạt 92,2% diện tích cần cấp). Đến hết năm 2015, toàn tỉnh cấp được 698.609 GCN với diện tích 245.070,95 ha (đạt 92,86% diện tích cần cấp); đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy cho 218/277 xã, phường, thị trấn (chiếm 73,14% diện tích tự nhiên).
  • Huyện Tân Sơn: Tổng diện tích tự nhiên 68.858 ha (đất nông nghiệp 5.297 ha, lâm nghiệp 52.577,5 ha). Tính đến tháng 9/2013, diện tích cần cấp GCN là 34.739,24 ha; đã cấp 32.031,21 ha (đạt 92,12%), còn lại 2.708,03 ha (chiếm 7,88%). Tổng số GCN cần cấp cho hộ gia đình, cá nhân là 43.076 giấy, đã cấp 34.284 giấy (đạt 79,59%), còn 8.792 giấy (chiếm 20,41%). Về hạ tầng bản đồ, huyện có 6 xã đã đo đạc bản đồ địa chính (Thu Cúc, Kiệt Sơn, Tân Phú, Mỹ Thuận, Thu Ngạc, Long Cốc) và 11 xã chưa có bản đồ địa chính chính quy (trong đó có Vinh Tiền).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác định đối tượng nghiên cứu là hoạt động cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã Vinh Tiền; phạm vi nghiên cứu là công tác cấp mới GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân giai đoạn 2016 – 2017. Địa điểm thực hiện tại Công ty Cổ phần Tài nguyên và Môi trường Phương Bắc. Nội dung nghiên cứu bao quát các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã, tình hình quản lý sử dụng đất, quy trình thủ tục hành chính, kết quả cấp mới tại 8 xóm và các giải pháp khắc phục khó khăn. Ba nhóm phương pháp nghiên cứu được xác định cụ thể: nghiên cứu văn bản pháp luật; điều tra thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp; phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu khảo sát thực tế:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Vinh Tiền: Xã có tổng diện tích tự nhiên 2.579,01 ha; tiếp giáp các xã Long Cốc (Bắc), Kim Thượng và Xuân Đài (Tây, Tây Bắc), Tam Thanh (Đông), Đông Cửu (Nam). Địa hình đồi núi chia cắt phức tạp. Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 23°C, độ ẩm 85 – 87%. Xã có 362 hộ với 1.445 nhân khẩu thuộc 8 khu hành chính; cơ cấu dân tộc gồm người Dao (76%), Mường (16%), Kinh (8%). Tỷ lệ hộ nghèo là 36,1% (130 hộ), cận nghèo 16,1% (58 hộ). Toàn xã có 867 lao động, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 72,9% (632 người).
  • Hiện trạng quản lý và sử dụng đất năm 2017: Tổng diện tích đất tự nhiên 2.579,01 ha phân bổ thành:
    • Đất nông nghiệp: 2.439,61 ha (chiếm 94,61% diện tích tự nhiên), trong đó đất lúa nước 56,89 ha (2,21%), đất trồng cây hàng năm khác 12,23 ha (0,47%), đất trồng cây lâu năm 41,63 ha (1,61%), đất rừng sản xuất 2.324,39 ha (90,13%), đất nuôi trồng thủy sản 4,48 ha (0,17%).
    • Đất phi nông nghiệp: 69,71 ha (chiếm 2,70% diện tích tự nhiên), gồm đất ở nông thôn 1,07 ha, đất ở kết hợp trồng cây lâu năm 34,35 ha, đất trụ sở cơ quan 0,3 ha, đất công trình sự nghiệp 1,05 ha, đất mục đích công cộng 21,83 ha, đất sông ngòi suối 10,4 ha.
    • Đất chưa sử dụng: 69,69 ha (chiếm 2,70% diện tích tự nhiên), gồm đất bằng chưa sử dụng 15,60 ha và đất đồi núi chưa sử dụng 53,08 ha.
  • Thực hiện công tác cấp mới GCNQSDĐ năm 2017: Trình tự thực hiện tuân thủ Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP qua các bước tiếp nhận hồ sơ tại UBND cấp xã, phối hợp đơn vị đo đạc trích đo địa chính, niêm yết công khai kết quả kiểm tra 15 ngày tại trụ sở UBND xã và khu dân cư, chuyển hồ sơ đến Văn phòng Đăng ký đất đai thẩm định, luân chuyển số liệu địa chính sang cơ quan thuế để tính toán nghĩa vụ tài chính hoặc lập thủ tục miễn giảm theo Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, trình cơ quan có thẩm quyền ký cấp giấy.
  • Phân tích nguyên nhân hồ sơ không đủ điều kiện và đề xuất giải pháp: Tác giả chỉ ra các trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy tại 8 xóm do có sự chênh lệch lớn giữa diện tích đo đạc thực tế với giấy tờ giao đất lâm nghiệp trước đây; tình trạng chồng lấn ranh giới; xây dựng nhà trên đất nông nghiệp; thiếu giấy tờ chứng minh nguồn gốc sử dụng đất ổn định theo Điều 100 và Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng kết các kết quả đạt được trong việc củng cố trật tự quản lý đất đai tại xã Vinh Tiền; đồng thời kiến nghị UBND huyện Tân Sơn sớm bố trí kinh phí đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy cho xã, tăng cường cán bộ chuyên môn cho địa chính cấp xã, đẩy mạnh tuyên truyền chế độ chính sách miễn giảm tiền sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh các dữ liệu thực tế về đất đai và công tác cấp GCNQSDĐ thông qua các bảng thống kê có trong văn bản:

Cấp hành chính / Phạm vi Chỉ tiêu đánh giá Số lượng / Diện tích Tỷ lệ đạt (%) Nguồn dữ liệu trong văn bản
Cả nước (đến 2016) Tổng số GCN đã cấp 41,6 triệu GCN / 22,9 triệu ha - Báo cáo Tổng cục QLĐĐ
Đất sản xuất nông nghiệp 20.980 ha 90,1% Bảng 2.2
Đất lâm nghiệp 1.740 ha 98,1% Bảng 2.2
Đất ở nông thôn 12.595 ha 96,7% Bảng 2.2
Tỉnh Phú Thọ (hết 2015) Tổng số GCN đã cấp 698.609 GCN / 245.070,95 ha 92,86% Chi cục Quản lý đất đai
Lập bản đồ địa chính chính quy 218/277 xã, phường, thị trấn 73,14% Chi cục Quản lý đất đai
Huyện Tân Sơn (đến 9/2013) Diện tích đất cần cấp GCN 32.031,21 ha / 34.739,24 ha 92,12% Phòng TN&MT huyện Tân Sơn
Số GCN hộ gia đình, cá nhân 34.284 giấy / 43.076 giấy 79,59% Phòng TN&MT huyện Tân Sơn
Xã Vinh Tiền (năm 2017) Tổng diện tích tự nhiên 2.579,01 ha 100% Bảng 4.1 (Kiểm kê 2017)
Đất nông nghiệp 2.439,61 ha 94,61% Bảng 4.1
Đất phi nông nghiệp 69,71 ha 2,70% Bảng 4.1
Đất chưa sử dụng 69,69 ha 2,70% Bảng 4.1

Về kết quả kê khai và xử lý hồ sơ cấp mới tại 8 xóm của xã Vinh Tiền năm 2017:

  • Khóa luận đã phân tích chi tiết tình trạng nộp hồ sơ tại 8 xóm, phân loại các nhóm hồ sơ đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.
  • Tác giả chỉ ra các nguyên nhân không đủ điều kiện chủ yếu do: thửa đất có tranh chấp ranh giới với các hộ liền kề; diện tích đo đạc thực tế tăng lớn so với hồ sơ lâm bạ hoặc giao đất trước đây nhưng không giải trình được nguồn gốc; người dân tự ý san gạt đồi rừng xây dựng nhà ở nhưng chưa làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất; vướng mắc trong việc xác định hạn mức đất ở vùng miền núi theo Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND (tối đa 400 m² đất giao và 100 m²/khẩu đối với diện tích đất vườn, ao có nguồn gốc trước ngày 15/10/1993 hoặc từ 18/12/1980 đến trước 01/7/2004).

Các giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất:

  1. Về mặt chính sách và thủ tục: Cần phổ biến rõ các quy định tại Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP về miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng miền núi, giúp người dân tháo gỡ áp lực nghĩa vụ tài chính khi làm thủ tục cấp giấy.
  2. Về mặt kỹ thuật: Kiến nghị UBND huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ sớm đưa xã Vinh Tiền vào dự án đo đạc, lập bản đồ địa chính chính quy tọa độ VN-2000 thay vì chỉ trích đo đơn lẻ theo từng cụm hồ sơ, nhằm giải quyết dứt điểm các sai lệch ranh giới và diện tích.
  3. Về phối hợp nghiệp vụ: Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ địa chính xã, Ban chỉ đạo kiểm kê của 8 xóm, đơn vị tư vấn đo đạc (Công ty Cổ phần Tài nguyên và Môi trường Phương Bắc) và Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh huyện Tân Sơn để thẩm định hồ sơ thực địa nhanh chóng, công khai minh bạch danh sách niêm yết trong thời hạn 15 ngày theo quy định.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp bức tranh số liệu xác thực về hiện trạng sử dụng đất và tình hình cấp mới GCNQSDĐ tại một xã miền núi có đặc thù tỷ lệ đồng bào dân tộc Dao cao (76%), chưa có bản đồ địa chính chính quy, đóng góp nguồn tư liệu phản ánh chân thực những vướng mắc pháp lý và kỹ thuật ở cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu mà tác giả đã chỉ ra:

  • Hạn chế về thời gian và cơ sở dữ liệu: Thời gian thực tập có hạn (đợt nghiên cứu thực tế tập trung vào tháng 10/2017), trong khi địa bàn xã Vinh Tiền rộng (2.579,01 ha) với địa hình đồi núi chia cắt phức tạp, giao thông cách trở giữa 8 xóm, khiến việc điều tra thực địa đến từng thửa đất gặp nhiều khó khăn.
  • Hạn chế về hồ sơ tài liệu lưu trữ: Do xã Vinh Tiền chưa có bản đồ địa chính chính quy, tài liệu địa chính qua các thời kỳ chủ yếu dựa trên bản đồ lâm nghiệp, hồ sơ giao đất lâm bạ và số liệu kiểm kê gián tiếp; hồ sơ lưu trữ tại xã qua các thời kỳ có sự thiếu hụt, không đồng bộ, gây khó khăn cho việc đối soát nguồn gốc sử dụng đất.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo:

  • Cần mở rộng khảo sát so sánh đối chứng giữa 11 xã chưa có bản đồ địa chính chính quy và 6 xã đã có bản đồ địa chính chính quy trên toàn huyện Tân Sơn để thấy rõ tác động của cơ sở hạ tầng bản đồ đối với tiến độ cấp giấy.
  • Đi sâu nghiên cứu các giải pháp ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh, hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong trích đo địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa đất đai cho các xã miền núi đặc biệt khó khăn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý đất đai và Quản lý tài nguyên môi trường: Khóa luận là tài liệu tham khảo cụ thể về cách thức vận dụng các văn bản pháp luật đất đai (Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP, Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT) vào giải quyết các hồ sơ hành chính tại cơ sở.
  • Đối với cán bộ địa chính cấp xã và các đơn vị tư vấn đo đạc: Khóa luận cung cấp các mẫu biểu, bảng tổng hợp hồ sơ và trình tự phối hợp nghiệp vụ giữa chính quyền cấp xã với công ty tư vấn đo đạc trong điều kiện địa phương chưa có bản đồ địa chính chính quy.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Phần 4 của khóa luận, đặc biệt là hệ thống số liệu kiểm kê hiện trạng đất đai năm 2017 của xã Vinh Tiền và các phân tích thực tế về nguyên nhân hồ sơ không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ liên quan đến hạn mức công nhận đất ở tại vùng miền núi tỉnh Phú Thọ theo Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND.

Câu hỏi thường gặp

1. Hạn mức giao và công nhận đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân tại xã Vinh Tiền được quy định cụ thể như thế nào?
Căn cứ theo Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Phú Thọ:

  • Về hạn mức giao đất ở: Xã Vinh Tiền thuộc địa bàn xã miền núi, diện tích đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không được nhỏ hơn 50 m² và không vượt quá 400 m² (Điều 3).
  • Về hạn mức công nhận đất ở theo số lượng nhân khẩu: Đối với các xã miền núi, hạn mức được xác định là 100 m²/khẩu đối với các trường hợp sử dụng đất có vườn, ao hình thành trước các mốc thời gian quy định tại Luật Đất đai năm 2013 (Điều 4).

2. Tình hình trang bị bản đồ địa chính tại huyện Tân Sơn và xã Vinh Tiền có đặc điểm gì nổi bật?
Theo số liệu từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Sơn, huyện có sự phân hóa hạ tầng đo đạc: chỉ có 06 xã được triển khai đo đạc bản đồ địa chính chính quy (gồm Thu Cúc, Kiệt Sơn, Tân Phú, Mỹ Thuận, Thu Ngạc và Long Cốc); trong khi có tới 11 xã không nằm trong dự án đo đạc bản đồ địa chính chính quy (gồm Thạch Kiệt, Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Sơn, Văn Luông, Tam Thanh, Vinh Tiền, Minh Đài, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn). Xã Vinh Tiền thuộc nhóm 11 xã chưa có bản đồ địa chính, do đó công tác cấp giấy phải thực hiện thông qua trích đo địa chính từng thửa đất.

3. Cơ cấu diện tích đất tự nhiên của xã Vinh Tiền năm 2017 có đặc trưng gì ảnh hưởng đến công tác cấp GCNQSDĐ?
Theo số liệu kiểm kê năm 2017, tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.579,01 ha. Trong đó, đất lâm nghiệp (rừng sản xuất) chiếm tỷ trọng áp đảo với 2.324,39 ha (tương đương 90,13% tổng diện tích xã). Đất ở thực tế chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (đất ở nông thôn thuần túy 1,07 ha, đất ở kết hợp trồng cây lâu năm 34,35 ha). Đặc điểm này khiến phần lớn diện tích người dân đang canh tác và cư trú có ranh giới tiếp giáp hoặc lồng ghép với đất rừng sản xuất, dễ dẫn đến tranh chấp ranh giới hoặc lấn chiếm đất rừng khi đo đạc xác định hiện trạng.

4. Trình tự cấp GCNQSDĐ lần đầu cho hộ gia đình tại địa phương chưa có bản đồ địa chính được thực hiện ra sao theo quy định tại khóa luận?
Quy trình tuân thủ Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP:

  1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký tại UBND cấp xã.
  2. Do xã chưa có bản đồ địa chính, UBND cấp xã thông báo cho Văn phòng Đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất (hoặc kiểm tra bản trích đo do tư vấn/người sử dụng đất nộp).
  3. UBND cấp xã kiểm tra hiện trạng, xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng, tình trạng tranh chấp và sự phù hợp với quy hoạch.
  4. Niêm yết công khai kết quả kiểm tra tại trụ sở UBND xã và khu dân cư trong thời hạn 15 ngày.
  5. Chuyển hồ sơ đến Văn phòng Đăng ký đất đai thẩm định, gửi thông tin địa chính sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (hoặc thực hiện chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất), chuẩn bị hồ sơ trình UBND cấp huyện ký cấp giấy chứng nhận.

5. Những nguyên nhân chính nào khiến một số hồ sơ tại 8 xóm của xã Vinh Tiền bị phân loại không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ năm 2017?
Các nguyên nhân chính được chỉ ra trong khóa luận bao gồm: diện tích đo đạc thực tế có sự chênh lệch lớn ngoài hạn mức so với giấy tờ giao đất cũ mà không chứng minh được nguồn gốc sử dụng ổn định; phát sinh tranh chấp ranh giới giữa các hộ liền kề chưa qua hòa giải thành; đất tự ý san ủi, chuyển mục đích sử dụng từ đất rừng sản xuất sang đất làm nhà ở không phù hợp quy hoạch; và việc các hộ dân thiếu các giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hợp lệ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ma Thị Nga đã phản ánh chi tiết thực trạng công tác cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 – 2017. Nghiên cứu đã làm rõ quy trình quản lý hành chính dựa trên hệ thống pháp luật của Luật Đất đai năm 2013 và các quy định của UBND tỉnh Phú Thọ, đồng thời đối chiếu trực tiếp với các số liệu kiểm kê đất đai và kết quả kê khai thực tế tại 8 xóm trên địa bàn xã. Báo cáo không chỉ tổng hợp bức tranh thực tế về đất đai của một xã miền núi điển hình chưa có bản đồ địa chính chính quy, mà còn chỉ ra các nguyên nhân rào cản kỹ thuật - pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với đặc thù kinh tế - xã hội địa phương.