Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Thảo, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy, thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 9380101.05) tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2019).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh thúc đẩy các chủ thể kinh doanh không ngừng đầu tư khoa học kỹ thuật, quảng bá sản phẩm và xây dựng các chỉ dẫn thương mại để tạo lập lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh tình trạng một bộ phận chủ thể kinh doanh lợi dụng thành quả đầu tư, uy tín của chủ thể khác nhằm thu lợi bất chính.
Mặc dù pháp luật sở hữu trí tuệ đã xác lập cơ chế bảo hộ độc quyền khai thác tài sản sở hữu công nghiệp, quyền này vẫn chịu các giới hạn nhất định về thời gian, không gian và điều kiện bảo hộ. Do đó, cơ chế xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thuần túy không thể bao quát toàn bộ các hành vi xâm phạm đến đối tượng sở hữu công nghiệp trên thị trường; các quốc gia đều cần thiết lập pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh như một công cụ bảo vệ bổ sung.
Tại Việt Nam, sau khi gia nhập WTO (năm 2007) và ban hành các đạo luật chuyên ngành như Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), khung pháp lý điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp đã bước đầu hình thành. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng bộc lộ nhiều khoảng trống và bất cập:
- Sự mâu thuẫn, phân tán và chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ, pháp luật thông tin và truyền thông, pháp luật doanh nghiệp). Điển hình là hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được quy định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 39 và Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2004 nhưng không nằm trong nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ, trong khi Nghị định số 99/2013/NĐ-CP lại quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này.
- Thẩm quyền xử lý bị phân tán giữa nhiều cơ quan chức năng khác nhau (Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, Tòa án), dẫn đến hiện tượng thoái thác, đùn đẩy trách nhiệm và hiệu lực răn đe chưa cao.
- Việc Quốc hội thông qua Luật Cạnh tranh năm 2018 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2019) đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu đồng bộ hóa hệ thống pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và pháp luật điều chỉnh; xác định khái niệm, đặc điểm của hành vi; phân tích sự cần thiết điều chỉnh pháp luật; xác định khái niệm, đặc điểm và các yếu tố cấu thành của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và hoạt động xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng, chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn và nguyên nhân của chúng.
- Xác định định hướng và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (bao gồm quy định về hành vi, chủ thể tham gia, cơ quan thực thi, chế tài và biện pháp xử lý), đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng và chống hành vi vi phạm trên thực tế.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án được phân định theo 3 nhóm nội dung chính:
Về lý luận:
- Câu hỏi nghiên cứu: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp có những đặc thù gì so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung? Hành vi này được nhận dạng qua những đặc điểm, dấu hiệu nào? Chủ thể thực hiện gồm những ai? Tại sao cần có pháp luật điều chỉnh riêng? Pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này có đặc điểm, nội dung gì và cơ quan nào có thẩm quyền xử lý? Khung pháp lý được xây dựng trên cơ sở lý luận nào?
- Giả thuyết nghiên cứu: Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp có những đặc điểm riêng so với các loại tài sản khác, do đó hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực này mang tính đặc thù so với cạnh tranh không lành mạnh nói chung. Khung pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được xây dựng trên cơ sở khung pháp luật cạnh tranh kết hợp các quy định điều chỉnh đặc thù đối với đối tượng sở hữu công nghiệp.
Về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi tại Việt Nam:
- Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng quy định pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay ra sao về dấu hiệu hành vi, chủ thể tham gia, chế tài áp dụng và cơ quan có thẩm quyền xử lý? Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân phát sinh là gì?
- Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành khung pháp lý điều chỉnh nhưng hệ thống còn thiếu đồng bộ, chưa đầy đủ; các dấu hiệu xác định hành vi chưa được quy định thống nhất giữa các văn bản; chế tài chưa tương thích và thiếu tính răn đe; cơ quan có thẩm quyền xử lý hoạt động chưa đạt hiệu quả cao.
Về phương hướng và giải pháp hoàn thiện:
- Câu hỏi nghiên cứu: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp hiện nay như thế nào? Những giải pháp cụ thể nào giúp khắc phục bất cập, bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và người tiêu dùng?
- Giả thuyết nghiên cứu: Các giải pháp và kiến nghị cần tiếp tục được xây dựng và bổ sung dựa trên cơ sở lý luận chặt chẽ và bằng chứng thực tiễn xác thực nhằm tạo lập hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, có tính khả thi và tương thích với các cam kết quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và thực tiễn diễn biến hành vi, hoạt động áp dụng pháp luật để xử lý các hành vi này tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam; kết hợp nghiên cứu, so sánh có chọn lọc với pháp luật quốc tế và một số quốc gia điển hình (như Pháp, Bỉ, Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Singapore).
- Về thời gian: Khảo cứu tiến trình từ giai đoạn trước Luật Cạnh tranh năm 2004, giai đoạn thực thi Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009) đến thời điểm chuẩn bị áp dụng Luật Cạnh tranh năm 2018 (năm 2019); các số liệu thực tế được khảo sát tập trung trong giai đoạn 2010 - 2017.
- Về nội dung: Tập trung làm rõ nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh mang tính chất lợi dụng thành quả đầu tư của chủ thể kinh doanh khác — nhóm hành vi thường xuyên phát sinh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu đã được điểm lại
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân tích theo 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:
| Nhóm công trình |
Các tác giả và công trình tiêu biểu được điểm lại |
Nội dung chính và giá trị khoa học |
| Lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và sở hữu công nghiệp |
- Jean-Jacques Burst (1993, Concurrence déloyale et parasitisme) - Yves Chaput (1988, Le droit de la concurrence) - Yves Serra (1993, Le droit français de la concurrence) - Kamil Idris (2005, Sở hữu trí tuệ công cụ đắc lực để phát triển kinh tế) - Joanna Schmidt-Szalewski & Jean-Luc Pierre (2001, Droit de la propriété industrielle) - Lê Xuân Thảo (2005), Lê Nết (2006), Nguyễn Thanh Tâm (2005, 2006), Nguyễn Như Phát & Bùi Nguyên Khánh (2001), Đặng Vũ Huân (2004), Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Hồ Xuân Thắng (2015), Phạm Văn Lợi & Nguyễn Văn Cương (2006), Đoàn Tích Tử Phước (2009). |
Phân tích bản chất pháp lý của cạnh tranh không lành mạnh dựa trên chế định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng; phân loại hành vi (gây nhầm lẫn, gièm pha, gây rối nội bộ, cạnh tranh ký sinh/ăn bám); khẳng định bản chất thương mại và tính chất tài sản đặc biệt của các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp. |
| Lý luận và quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp |
- Andrée Puttemans (2000, Droits intellectuels et concurrence déloyale) - Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ do Nguyễn Như Quỳnh làm chủ nhiệm (2014) - Lê Anh Tuấn (2008, 2009), Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm (2006), Lê Văn Cương (2012), Đặng Thị Hồng Tuyền (2013), Đặng Công Huân (2016), Đỗ Thu Thủy (2016), Nguyễn Hữu Huyên (2008), Trương Thị Thanh Tuyết (2011), Bùi Thị Huyền (2010), Nguyễn Thị Kim Liên (2013). |
Xem xét cạnh tranh không lành mạnh như một công cụ bảo vệ bổ sung cho quyền sở hữu công nghiệp; bước đầu làm rõ ranh giới giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp qua các yếu tố (chủ thể, phạm vi áp dụng, lỗi); khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của Bỉ, Hoa Kỳ. |
| Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam |
- Nguyễn Bá Diến (2010, Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế) - Kiều Thị Thanh (2013, Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam) - Đề tài cấp Bộ của Trường Đại học Ngoại thương do Tăng Văn Nghĩa chủ nhiệm (2007) - Báo cáo tổng kết của Nguyễn Như Quỳnh (2014), Nguyễn Thái Mai (2009), Hồ Xuân Thắng (2015), Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm (2006), Đặng Thị Hồng Tuyền (2013), Đặng Công Huân (2016). |
Nhận diện thực trạng cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thực thi tại Việt Nam; phân tích sự bất cập trong mô hình xử lý vi phạm hành chính chiếm ưu thế hơn tư pháp; đề xuất sửa đổi các điều luật liên quan trong Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và cơ chế xử lý bí mật kinh doanh. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua khảo cứu tổng quan, tác giả nhận định các công trình trước đây phần lớn dừng lại ở cấp độ nghiên cứu từng đối tượng riêng lẻ (nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, tên thương mại) hoặc khảo cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ, chưa có công trình luận án tiến sĩ nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Luận án lựa chọn giải quyết các khoảng trống lý luận và thực tiễn cốt lõi:
- Xây dựng phạm vi điều chỉnh và nội dung khung pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp một cách hoàn chỉnh.
- Xác lập hệ tiêu chí phân định bản chất pháp lý giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
- Giải quyết mâu thuẫn thực định giữa quy định của Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ về việc phân loại hành vi vi phạm.
- Đánh giá tính phân tán, chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp trong thực tiễn xử lý tại Việt Nam, từ đó thiết kế mô hình phân cấp, phối hợp và hoàn thiện chế tài xử lý.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu sinh vận dụng 5 lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý và kinh tế học để giải quyết các vấn đề nghiên cứu:
- Lý thuyết hành vi: Khẳng định con người luôn cân nhắc giữa lợi ích và bất lợi khi thực hiện hành vi. Luận án sử dụng lý thuyết này để phân tích nguyên nhân các chủ thể kinh doanh thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận mà không bỏ chi phí nghiên cứu sáng tạo, từ đó thiết kế các chế tài đủ sức răn đe để triệt tiêu động cơ trục lợi.
- Lý thuyết về sự công bằng: Đặt ra yêu cầu cân bằng giữa việc đền đáp nỗ lực tinh thần, kỹ thuật, tài chính của chủ sở hữu tài sản trí tuệ với lợi ích của công chúng và xã hội. Luận án vận dụng lý thuyết này để luận giải quyền độc quyền có giới hạn của chủ thể sở hữu công nghiệp và cơ chế sử dụng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh để bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong trường hợp đối tượng chưa đăng ký bảo hộ hoặc đã hết hạn bảo hộ.
- Lý thuyết phần thưởng (vị lợi): Nhấn mạnh chủ thể sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ có quyền được hưởng lợi ích tài chính khi đưa sản phẩm ra khai thác trên thị trường. Luận án sử dụng lý thuyết để phân tích tính chất thương mại của quyền sở hữu công nghiệp và căn cứ áp dụng pháp luật thương mại, cạnh tranh để chống xâm phạm tài sản trí tuệ.
- Lý thuyết tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh: Thừa nhận quyền tự do gia nhập thị trường và thu hút khách hàng, nhưng khẳng định quyền tự do này không phải là tuyệt đối mà phải chịu sự điều tiết của Nhà nước nhằm duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích công cộng và ngăn chặn sự lạm dụng quyền tự do cạnh tranh.
- Lý thuyết cạnh tranh "ăn bám" (cạnh tranh "ký sinh"): Giải thích hiện tượng một chủ thể kinh doanh lợi dụng tên tuổi, thành quả đầu tư, uy tín của chủ thể khác đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn thương mại) để thu hút khách hàng thông qua sự nhầm lẫn. Luận án dùng lý thuyết này để làm rõ bản chất của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt để làm rõ cơ sở lý luận về cạnh tranh không lành mạnh, nội dung quy phạm pháp luật và các quan điểm học thuật trong và ngoài nước.
- Phương pháp phân loại pháp lý: Phân định các nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và các nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
- Phương pháp phân tích quy phạm: Nghiên cứu cấu trúc các điều khoản trong hệ thống pháp luật Việt Nam (Luật Cạnh tranh năm 2004/2018, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005/2009, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, các nghị định xử phạt vi phạm hành chính), các điều ước quốc tế (Công ước Paris năm 1883, Hiệp định TRIPS) để làm rõ tính tương thích, sự chồng chéo và khoảng trống lập pháp.
- Phương pháp mô tả và phân tích tình huống pháp lý: Khảo sát các vụ việc thực tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh để minh chứng cho các biểu hiện vi phạm và cách thức cơ quan chức năng xử lý.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Phân tích đối chiếu quy định pháp luật của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và pháp luật của một số quốc gia (Pháp, Bỉ, Hoa Kỳ, EU, Singapore), đồng thời so sánh lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê: Thu thập và tổng hợp số liệu các vụ việc vi phạm được xử lý bởi Cục Quản lý cạnh tranh (sau này là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng) và các cơ quan thanh tra giai đoạn 2010 - 2017; số liệu khảo sát nhận thức pháp luật của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu sử dụng trong luận án bao gồm:
- Văn bản pháp luật quốc tế và các hiệp định đa phương: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Hiệp định TRIPS của WTO.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Cạnh tranh năm 2018, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009), Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị định số 99/2013/NĐ-CP, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP...
- Báo cáo chính thức của cơ quan nhà nước: Báo cáo số liệu xử lý vụ việc của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng từ năm 2010 đến 2017 (Bảng 3.1); Báo cáo tổng kết Chương trình hành động phòng, chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn 2012 - 2015 (Bảng 3.2).
- Dữ liệu khảo sát xã hội học pháp lý: Dữ liệu về mức độ hiểu biết và thói quen tham khảo pháp luật cạnh tranh của doanh nghiệp, sự nhận biết cơ quan thực thi, cách thức giải quyết tranh chấp và lý do im lặng của người tiêu dùng (Biểu đồ 3.1 đến 3.5).
- Hồ sơ thực tế: Hồ sơ vụ việc so sánh sản phẩm dầu gội "Sunsilk" của Unilever Việt Nam và "Dầu gội dược liệu Thái Dương 3" của Công ty Cổ phần Sao Thái Dương (Hình ảnh 3.1, 3.2, 3.3).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, phân định thành ba nhóm nội dung: các vấn đề lý luận; thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; phương hướng và giải pháp hoàn thiện.
Tác giả chỉ rõ các vấn đề luận án kế thừa: khung lý thuyết chung về cạnh tranh, lý luận về quyền sở hữu công nghiệp mang bản chất thương mại, các nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính và tư pháp, cùng kinh nghiệm lập pháp quốc tế. Chương này xác định những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu như: tiêu chí nhận dạng hành vi, thẩm quyền xử lý phân tán, mâu thuẫn trong các đạo luật thực định. Đồng thời, tác giả thiết lập hệ thống 5 lý thuyết nền tảng (hành vi, sự công bằng, phần thưởng, tự do cạnh tranh, cạnh tranh ký sinh) và xây dựng 3 cặp câu hỏi - giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Chương 2 tập trung phân tích bản chất lý luận của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật điều chỉnh. Tác giả định nghĩa: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp là hành vi cạnh tranh của chủ thể kinh doanh trong hoạt động kinh doanh trái với tập quán trung thực, thiện chí trong thương mại, gây thiệt hại và/hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc/và của người tiêu dùng, hướng tới đối tượng là các thành quả đầu tư, chỉ dẫn thương mại và các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Một đóng góp lý luận quan trọng của chương là xác lập bảng tiêu chí phân biệt giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:
| Tiêu chí phân biệt |
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp |
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp |
| Bản chất pháp lý |
Vi phạm tập quán trung thực, đạo đức kinh doanh; có bản chất là hành vi cạnh tranh trái chuẩn mực thương mại lành mạnh. |
Xâm phạm trực tiếp vào quyền độc quyền khai thác tài sản sở hữu công nghiệp đã được Nhà nước xác lập/bảo hộ. |
| Đối tượng tác động |
Rộng hơn: bao gồm cả các đối tượng sở hữu công nghiệp chưa đăng ký bảo hộ, các chỉ dẫn thương mại, bao bì, kiểu dáng, thành quả đầu tư kinh doanh. |
Thu hẹp trong phạm vi các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được cấp văn bằng bảo hộ hoặc xác lập quyền theo luật định. |
| Chủ thể thực hiện |
Bắt buộc phải là các chủ thể kinh doanh có quan hệ cạnh tranh trên thị trường (hoặc tác động tới quan hệ cạnh tranh). |
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào thực hiện hành vi mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền, không bắt buộc phải là đối thủ cạnh tranh. |
| Yếu tố lỗi |
Yếu tố lỗi cố ý nhằm trục lợi từ uy tín, thành quả của đối thủ cạnh tranh để tạo ưu thế bất chính. |
Không bắt buộc phải có lỗi cố ý; hành vi có thể thực hiện do lỗi vô ý nhưng vẫn cấu thành vi phạm quyền. |
Chương này cũng phân tích vai trò của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh như một cơ chế bảo hộ bổ trợ cho pháp luật sở hữu trí tuệ, phân định mối quan hệ giao thoa với pháp luật cạnh tranh, pháp luật dân sự và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
Chương 3 tái hiện tiến trình phát triển pháp luật qua hai giai đoạn: giai đoạn trước Luật Cạnh tranh năm 2004 và giai đoạn từ khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004 đến nay.
Phân tích thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng cho thấy hệ thống pháp luật bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng:
- Xung đột quy định: Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh được Luật Cạnh tranh năm 2004 coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 39, Điều 41), nhưng Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ lại không đưa hành vi này vào nhóm cạnh tranh không lành mạnh mà xếp vào hành vi xâm phạm quyền (Điều 127). Tương tự, hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại cũng gặp vướng mắc giữa quy định sở hữu trí tuệ và quản lý thông tin mạng (Nghị định số 72/2013/NĐ-CP).
- Thực tiễn hành vi sao chép kiểu dáng, bao bì: Tác giả dẫn chứng vụ việc phân tích so sánh các đặc điểm tạo dáng cơ bản giữa sản phẩm dầu gội "Sunsilk" của Unilever Việt Nam và sản phẩm "Dầu gội dược liệu Thái Dương 3" của Công ty Cổ phần Sao Thái Dương (minh họa tại Hình ảnh 3.1, 3.2, 3.3) để chỉ ra ranh giới mong manh giữa sáng tạo độc lập và sao chép bao bì, chỉ dẫn gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
- Số liệu thống kê thực thi: Bảng 3.1 phản ánh số lượng vụ việc cạnh tranh không lành mạnh do Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng xử lý từ năm 2010 đến năm 2017 còn rất hạn chế so với quy mô thị trường; Bảng 3.2 tổng kết Chương trình hành động phòng, chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn 2012 - 2015 cho thấy phần lớn vụ việc được xử lý qua con đường hành chính.
- Nhận thức thực tế: Dữ liệu từ các Biểu đồ 3.1 đến 3.5 chỉ rõ: mức độ hiểu biết pháp luật cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp (Biểu đồ 3.1); tỷ lệ tham khảo pháp luật cạnh tranh khi xây dựng chính sách kinh doanh chưa cao (Biểu đồ 3.2); mức độ nhận biết cơ quan quản lý cạnh tranh hạn chế (Biểu đồ 3.3); người tiêu dùng có xu hướng im lặng hoặc bỏ qua vụ việc do thủ tục phức tạp và thiệt hại cá nhân nhỏ (Biểu đồ 3.4, 3.5).
- Thẩm quyền phân tán: Sự chồng chéo giữa Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường và Tòa án làm suy giảm hiệu lực bảo vệ quyền của doanh nghiệp.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
Chương 4 xác lập các phương hướng hoàn thiện pháp luật: bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; đáp ứng yêu cầu tạo lập môi trường kinh doanh công bằng; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nhóm giải pháp thực thi:
- Hoàn thiện quy định về hành vi: Thống nhất định nghĩa và phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ; bổ sung dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến kiểu dáng công nghiệp; làm rõ trách nhiệm pháp lý của bên thứ ba trong việc thu thập, bộc lộ và sử dụng bí mật kinh doanh; chuẩn hóa tiêu chí xác định hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại và tên miền gây nhầm lẫn.
- Hoàn thiện quy định về chủ thể: Mở rộng và xác định rõ khái niệm chủ thể kinh doanh, địa vị pháp lý của các bên liên quan và quyền khởi kiện của các hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Hoàn thiện quy định về cơ quan thực thi: Phân định ranh giới thẩm quyền giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan thanh tra chuyên ngành sở hữu trí tuệ; giảm bớt sự chồng chéo giữa các cơ quan hành chính; tăng cường vai trò xét xử của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp cạnh tranh không lành mạnh.
- Hoàn thiện quy định về biện pháp và chế tài: Nâng mức tiền xử phạt hành chính để bảo đảm tính răn đe; đa dạng hóa chế tài bồi thường thiệt hại; hoàn thiện cơ chế tố tụng cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc thủ tục rút gọn tương tự án lệnh khẩn cấp nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm có nguy cơ gây thiệt hại lớn.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực thi; tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật cạnh tranh cho cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa hải quan, công an kinh tế, thanh tra và quản lý thị trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về khoa học và lý luận
Luận án đạt được những kết quả đóng góp mới được khẳng định trong văn bản:
- Tổng quan toàn diện tình hình nghiên cứu: Luận án hệ thống hóa có phê phán các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, làm rõ những nội dung đã được giải quyết và nhận diện chính xác các khoảng trống lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, đặt nền tảng cho việc tiếp cận đồng bộ trong bối cảnh sửa đổi Luật Cạnh tranh.
- Xác lập khung lý luận đặc thù: Luận án làm rõ khái niệm, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; xây dựng hệ thống 4 tiêu chí cốt lõi (bản chất pháp lý, đối tượng bị vi phạm, chủ thể vi phạm và yếu tố lỗi) để phân biệt rành mạch giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Luận án luận giải sâu sắc vị trí của chế định này như một công cụ bảo vệ bổ trợ độc lập và thiết yếu bên cạnh cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
- Luận giải nguyên nhân bất cập thực định: Luận án chỉ ra nguồn gốc của các mâu thuẫn lập pháp giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, bắt nguồn từ kỹ thuật lập pháp thiếu đồng bộ và sự khác biệt trong góc độ tiếp cận giữa luật cạnh tranh (bảo vệ trật tự thị trường) và luật sở hữu trí tuệ (bảo vệ quyền tài sản tư).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật có tính thực tiễn cao:
- Đề xuất sửa đổi các điều luật cụ thể tại Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 (chuẩn bị triển khai Luật Cạnh tranh năm 2018), Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành (như Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, Nghị định số 99/2013/NĐ-CP).
- Thống nhất cơ chế giải quyết hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến kiểu dáng công nghiệp, tên miền trên internet.
- Tái cơ cấu thẩm quyền thực thi theo hướng tinh gọn đầu mối xử lý hành chính, nâng cao vai trò của Tòa án nhân dân và thiết lập quy trình tố tụng nhanh để ngăn chặn nguy cơ thiệt hại tài sản trí tuệ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
Theo phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định trong văn bản:
- Luận án tập trung trọng tâm vào nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh mang tính chất lợi dụng thành quả đầu tư của chủ thể kinh doanh khác, chưa nghiên cứu bao quát mọi dạng thức hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.
- Về phạm vi so sánh quốc tế, nghiên cứu sinh chỉ lựa chọn đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia và khu vực phát triển điển hình (Pháp, Bỉ, Hoa Kỳ, EU, Singapore), chưa khảo sát trên phạm vi toàn bộ các hệ thống pháp luật.
- Về thời điểm hoàn thành (năm 2019), Luật Cạnh tranh năm 2018 vừa được ban hành và chuẩn bị có hiệu lực (ngày 01/7/2019), do đó luận án chưa thể khảo sát và đánh giá đầy đủ các dữ liệu thực tế phát sinh từ việc áp dụng Luật Cạnh tranh năm 2018 trong dài hạn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Tiếp tục theo dõi, tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến sở hữu công nghiệp sau khi luật chính thức đi vào cuộc sống.
- Nghiên cứu mở rộng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới phát sinh trong môi trường kinh tế số, thương mại điện tử và trí tuệ nhân tạo.
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp tố tụng giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và hệ thống Tòa án nhân dân trong bối cảnh cải cách tư pháp tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị ứng dụng và tham khảo khoa học thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu trí tuệ và các nghị định xử phạt vi phạm hành chính chuyên ngành; là tài liệu tham khảo cho Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Cục Sở hữu trí tuệ, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc phân định thẩm quyền và hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành.
- Đối với cơ quan xét xử và cán bộ thực thi: Cung cấp tiêu chí pháp lý rõ ràng (bảng 4 tiêu chí phân biệt) giúp Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thanh tra viên và lực lượng Quản lý thị trường xác định chính xác tội danh, hành vi vi phạm giữa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và cạnh tranh không lành mạnh.
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế, Luật dân sự tại các trường đại học và cơ sở đào tạo nghề tư pháp.
- Đối với doanh nghiệp và luật sư: Hỗ trợ các chủ thể kinh doanh xây dựng chiến lược tự bảo vệ tài sản sở hữu công nghiệp, phòng ngừa rủi ro pháp lý và lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu khi quyền lợi bị xâm hại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp dựa trên những tiêu chí nào?
Luận án phân định hai loại hành vi này dựa trên 4 tiêu chí pháp lý cơ bản:
- Bản chất pháp lý: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi vi phạm đạo đức, tập quán trung thực trong kinh doanh; hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là hành vi vi phạm quyền độc quyền khai thác tài sản đã được Nhà nước xác lập.
- Đối tượng bị tác động: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh hướng tới phạm vi rộng hơn (gồm cả đối tượng chưa đăng ký bảo hộ, kiểu dáng, bao bì, chỉ dẫn thương mại); hành vi xâm phạm quyền chỉ áp dụng đối với đối tượng đã được cấp văn bằng hoặc xác lập quyền theo luật định.
- Chủ thể vi phạm: Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh bắt buộc phải là chủ thể kinh doanh có quan hệ cạnh tranh trên thị trường; chủ thể xâm phạm quyền có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.
- Yếu tố lỗi: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh đòi hỏi yếu tố lỗi cố ý nhằm trục lợi; hành vi xâm phạm quyền không bắt buộc phải có lỗi cố ý (có thể do lỗi vô ý).
2. Tại sao pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được coi là cơ chế bảo vệ bổ trợ cho pháp luật sở hữu công nghiệp?
Quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ độc quyền nhưng luôn bị giới hạn nghiêm ngặt về không gian, thời gian và các điều kiện cấp văn bằng bảo hộ. Trên thị trường thực tế, có nhiều đối tượng chứa đựng thành quả đầu tư sáng tạo hoặc uy tín kinh doanh (như nhãn hiệu chưa đăng ký, bao bì hàng hóa, phong cách trình bày, bí quyết kinh doanh) bị đối thủ sao chép, bắt chước gây nhầm lẫn cho khách hàng nhưng lại không đủ điều kiện để khởi kiện theo cơ chế xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thuần túy. Khi đó, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh đóng vai trò như một lưới chắn pháp lý bổ sung, giúp bảo vệ công bằng thành quả đầu tư của doanh nghiệp và ngăn chặn hành vi ăn bám thương mại.
3. Những hạn chế lớn nhất trong thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp tại Việt Nam là gì?
Luận án chỉ ra hai hạn chế nổi bật:
- Sự phân tán và chồng chéo thẩm quyền: Thẩm quyền xử lý bị phân chia giữa quá nhiều cơ quan (Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường, Thanh tra Thông tin và Truyền thông, Tòa án), dẫn đến sự đùn đẩy trách nhiệm và thiếu nhất quán trong áp dụng pháp luật.
- Mức chế tài chưa đủ sức răn đe: Mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp so với nguồn lợi bất chính mà hành vi vi phạm mang lại; việc khởi kiện ra Tòa án dân sự còn hạn chế do thủ tục kéo dài và khó khăn trong chứng minh thiệt hại thực tế.
4. Vụ việc thực tiễn nào được luận án sử dụng để phân tích hành vi tạo dáng bao bì gây nhầm lẫn?
Luận án đã đưa vào phân tích hồ sơ vụ việc thực tế so sánh các đặc điểm tạo dáng cơ bản giữa sản phẩm dầu gội "Sunsilk" của Công ty Unilever Việt Nam và sản phẩm "Dầu gội dược liệu Thái Dương 3" của Công ty Cổ phần Sao Thái Dương (thể hiện qua các Hình ảnh 3.1, 3.2, 3.3 tại trang 102 của luận án). Đây là tình huống điển hình minh họa cho tranh chấp về việc sử dụng kiểu dáng bao bì tương tự có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng trên thị trường.
5. Luận án đã tiếp thu kinh nghiệm tư pháp nào từ Vương quốc Bỉ để hoàn thiện tố tụng tại Việt Nam?
Qua khảo cứu công trình của học giả Andrée Puttemans (năm 2000), luận án ghi nhận kinh nghiệm tố tụng tiến bộ của Vương quốc Bỉ: cho phép áp dụng thủ tục rút gọn trong các vụ kiện chống cạnh tranh không lành mạnh, theo đó Tòa án có thể ban hành án lệnh khẩn cấp buộc chấm dứt ngay hành vi vi phạm khi người khởi kiện chứng minh được có nguy cơ xảy ra thiệt hại, thay vì phải chờ đợi chứng minh thiệt hại thực tế phát sinh. Luận án đề xuất Việt Nam cần nghiên cứu cơ chế tương tự nhằm bảo vệ kịp thời quyền lợi của chủ thể kinh doanh.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Thảo là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp tại Việt Nam dưới góc độ luật kinh tế. Tác giả đã luận giải thành công mối quan hệ giao thoa giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, đồng thời xác lập hệ thống tiêu chí phân định rõ ràng giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ những xung đột, bất cập thực định giữa các văn bản quy phạm pháp luật và sự phân tán thẩm quyền của các cơ quan thực thi tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2017. Hệ thống các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành được đề xuất trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, phục vụ trực tiếp cho tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.