CHƯƠNG 1. Bối cảnh nghiên cứu Cá tra hiện là một trong những loài thủy sản nước ngọt được nuôi gần bờ lớn nhất trên thế giới (FAO, 2013). Các nhà sản xuất cá tra chính bao gồm các quốc gia/vùng lãnh thổ sở hữu các lưu vực sông thuận lợi cho sự phát triển của loài cá này bao gồm: Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Trung Quốc, Lào, Indonesia, Malaysia, Bangladesh, … Trong đó, Việt Nam chiếm hơn 80% sản lượng cá tra sản xuất của thế giới (FAO, 2013). Nếu xét về thị phần xuất khẩu thì Việt Nam chiếm trên 95% sản lượng cá tra xuất khẩu của thế giới trong giai đoạn từ 2007 – 2014 (Nguyen Tien Thong, Nguyen Van Giap, & et al.
Như vậy, khác với các loại nông sản khác cũng là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam như gạo, cà phê, tiêu, điều,. hầu như không có đối thủ nào trên thế giới có thể cạnh tranh được với Việt Nam về thị phần cá tra phi lê đông lạnh. Theo Hiệp hội Thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu cá tra năm 2016 đạt hơn 1,7 tỷ USD, chiếm 24,3% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Cả nước có khoảng 70 nhà máy chế biến phi lê cá tra và cung cấp việc làm cho hơn 200.
Các thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam năm 2016 là Mỹ, Trung Quốc và Hong Kong, EU và ASEAN. Bảng 1-1: Kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam năm 2016 Kim ngạch XK năm 2016 So với cùng kỳ TT Thị trường Tỷ lệ (% ) (triệu USD) 2015 (% ) 1 Mỹ 387 22.8% 2 TQ và HK 305 17.6% Nguồn: VASEP LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Tuy chiếm tỷ trọng xuất khẩu cá tra phi lê áp đảo thế giới, các sản phẩm cá tra của Việt Nam luôn phải đối mặt với áp lực giảm giá xuất khẩu kéo dài ở hầu khắp các thị trường. Hình 1-1: Diễn biến giá xuất khẩu cá tra trung bình sang một số thị trường từ năm 2011 - 2013 (Nguồn: Agromonitor) Hình 1-2: Diễn biến giá nhập khẩu cá tra của Mỹ từ Việt Nam từ 2010 – đầu 2016 (Nguồn: Tạp chí thị trường giá cả, tháng 7/2016) Theo thống kê của FAO, giai đoạn từ năm 2010 đến nay chỉ số giá ngành cá đối mặt với 2 chu kỳ lớn, tuy nhiên đường xu hướng giá nhìn chung là không giảm. Như vậy, xu hướng giá của các sản phẩm cá tra xuất khẩu của Việt Nam có phần tiêu cực hơn so với diễn biến chỉ số giá ngành cá nói chung và chỉ số giá các loại cá nuôi trồng nói riêng trên thế giới.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Hình 1-3: Chỉ số giá ngành cá thế giới từ 1990 – 2016 (Nguồn: http://www.org/in-action/globefish/fishery-information/resource-detail/en/c/338601/) Giá xuất khẩu cá tra Việt Nam giảm trong thời gian dài đã và đang thách thức sức chịu đựng của ngành cá tra Việt Nam. Giá xuất khẩu giảm ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cá tra Việt Nam và người nuôi cá trong nước. Trong năm 2016, diễn biến giá thu mua cá tra nguyên liệu tại ao dao động từ 18.000 đ/kg, so với cùng kỳ năm 2015 giảm 3.000 đồng/kg1, bình quân người nuôi lỗ 1. Người nuôi treo ao hoặc sản xuất cầm chừng dẫn đến diện tích nuôi cá tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) biến động mạnh.
Trong khi đó, các doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu thì phải đối mặt với biên sinh lợi ngày càng thu hẹp. “Nghịch lý về thế thương lượng của ngành cá tra” là cụm từ ngày càng phổ biến và trở thành câu hỏi lớn của các doanh nghiệp trong ngành và người làm chính sách. Trước thực trạng đó, ngày 29/04/2014 Chính phủ ban hành nghị định 36 về nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra đánh dấu nỗ lực nhằm nâng cao uy tín của cá tra Việt Nam trên trường quốc tế. Những điểm then chốt của Nghị định bao gồm: đăng ký hợp đồng xuất khẩu, điều kiện về tiêu chuẩn chất lượng như tỷ lệ mạ băng, hàm lượng nước trong sản phẩm, … Tuy nhiên, nhiều nội dung của nghị định đã bị phản đối gay gắt từ phía các doanh nghiệp xuất 1 Theo Tổng cục Thủy sản – Tổng kết sản xuất, tiêu thụ cá tra năm 2016 và bàn giải pháp phát triển bền vững, tháng 12/2016.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 khẩu và buộc nghị định 36 phải hoãn thời gian hiệu lực. Đến tháng 5/2017, nghị định 55/2017/NĐ-CP ra đời thay thế cho nghị định 36 và lược bỏ phần lớn các quy định về chất lượng sản phẩm và điều kiện xuất khẩu cá tra của nghị định 36. Vấn đề nghiên cứu Đề tài này chọn nghiên cứu về một vấn đề mà nhiều người cho là “nghịch lý” khi nói về ngành cá tra Việt Nam: thị phần xuất khẩu cá tra áp đảo thế giới và thế bị động chấp nhận giá bán sụt giảm kéo dài của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nhằm xác định nguồn gốc của áp lực giảm giá xuất khẩu và từ đó gợi mở những giải pháp nhằm cải thiện tình trạng ngành.
Câu hỏi nghiên cứu Vì sao giá xuất khẩu cá tra của cá tra Việt Nam sụt giảm kéo dài qua thời gian? Nếu tiếp tục xu hướng hiện tại thì đâu là mức giá cân bằng của thị trường? 1. Phương pháp nghiên cứu Để trả lời câu hỏi nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với cách tiếp cận của kinh tế học vi mô về cấu trúc thị trường và lý thuyết trò chơi. Cấu trúc bài viết Sau phần giới thiệu, bài nghiên cứu được cấu trúc thành 4 phần chính. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích được trình bày ở Chương 2.
Chương 3 tập trung phân tích các đặc điểm của thị trường cá tra và xây dựng mô hình tương tác chiến lược giữa các doanh nghiệp xuất khẩu trên thị trường. Chương 4 trình bày kết cục của mô hình và các giả thuyết thay thế. Chương 5 sẽ giành cho phần kết luận và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Nội dung chương này trình bày kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, các cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài và lựa chọn khung phân tích. Trong đó, kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn dữ liệu quý giá được đề tài kế thừa và phát triển. Đặc biệt, đề tài sử dụng nhiều cơ sở lý thuyết của kinh tế học vi mô để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu trước Mặc dù cá tra/cá da trơn được đánh giá là một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong số các chủng loại thủy sản nuôi trồng trên thế giới, lĩnh vực này chưa được sự quan tâm đúng mức của giới nghiên cứu.
Bằng chứng là các công trình nghiên cứu có liên quan đến ngành còn rất hạn chế. Đến thời điểm thực hiện bài nghiên cứu này, tác giả thu thập được một số kết quả nghiên cứu đáng lưu ý từ một số ít nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như trình bày dưới đây. Trong một nghiên cứu năm 2014, các tác giả Nguyễn Tiến Thông, Nguyễn Văn Giáp và cộng sự đã ước tính một hàm cầu ngược cho cá tra để xác định tác động của việc tăng sản lượng lên giá bán. Theo đó, tất cả các hệ số co giãn riêng phần của giá đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% và có giá trị từ - 0.917, trung bình là – 0.419 tại tất cả các thị trường bao gồm ASEAN và Đông Á; Bắc Mỹ; Úc và New Zealand; Nga và Đông Âu; Nam và Trung Mỹ; Tây Âu và phần còn lại của thế giới.
Hay nói cách khác, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi nếu sản lượng tăng 1% sẽ dẫn đến giá bán giảm trung bình là 0. Kết quả này cho thấy, các chính sách kêu gọi cắt giảm sản lượng xuất khẩu cá tra của Việt Nam nhằm cải thiện giá bán là không có cơ sở và có thể làm tình trạng ngành diễn biến xấu hơn vì ứng với 1% mức sụt giảm trong sản lượng sẽ dẫn đến chưa tới 0.5% mức tăng của giá bán. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy các thị trường nhập khẩu cá tra có mức độ thay thế cho nhau khá tốt, đặc biệt là Tây Âu và Bắc Mỹ. Hạn chế của nghiên cứu này là chưa bao gồm các loại cá thịt trắng khác vào mô hình nhưng các hệ số co giãn riêng phần của giá tại tất cả các thị trường đều nhỏ và có ý nghĩa thống kê cho thấy nhiều khả năng sự thay thế giữa cá tra và các loại cá phi lê thịt trắng khác là không hoàn hảo (Nguyen Tien Thong et al.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Cùng quan điểm với các tác giả trên về khả năng thay thế giữa các thị trường nhập khẩu là 2 tác giả đến từ đại học Kinh tế TP HCM: Từ Văn Bình và Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2014). Thông qua thu thập số liệu về giá bán và sản lượng xuất khẩu hàng tháng của cá tra phi lê trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2011, mô hình hồi quy của các tác giả (đã tính đến tác động của tỷ giá và lạm phát) cho thấy tác động của thuế chống bán phá giá mà Mỹ áp đặt lên cá tra Việt Nam có thể ảnh hưởng đến kim ngạch và sản lượng xuất khẩu cá tra vào thị trường này trong ngắn hạn nhưng hoạt động xuất khẩu cá tra của Việt Nam trong dài hạn nhìn chung không bị ảnh hưởng đáng kể do khả năng tìm kiếm thị trường mới thay thế Mỹ. Kết quả này cho thấy quy mô rộng lớn và sự năng động của thị trường; đồng thời “cuộc chiến” giữa cá tra Việt Nam với cá da trơn Mỹ chưa phải là toàn bộ câu chuyện về các thị trường nhập khẩu cá tra của Việt Nam (Tu Van Binh & Nguyen Huu Huy Nhut, 2014). Nói về thị trường các sản phẩm thay thế, tác giả Tô Thị Kim Hồng và Nguyễn Minh Đức trong bài báo “Competition between US Catfish and Imported Fish: A Demand System Analysis” đã chỉ ra: thuế chống bán phá giá của Mỹ áp lên sản phẩm cá tra Việt Nam có tác động tích cực đến thị phần của cá hồi và cá rô phi nhập khẩu vào Mỹ trong khi có tác động tiêu cực lên thị phần của cá da trơn nhập khẩu và sản xuất nội địa, tuy nhiên tác động này là không lớn (To Thi Kim Hong & Nguyen Minh Duc, 2009).