Thực trạng cận thị và yếu tố liên quan ở học sinh THCS Lam Sơn, Đà Lạt 2024

Nghiên cứu thực trạng cận thị và các yếu tố liên quan ở học sinh THCS tại Đà Lạt 2024. Cung cấp số liệu chi tiết, phân tích nguyên nhân và giải pháp.

Trường đại học

Thang Long University

Chuyên ngành

Public Health

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Master's thesis

2024

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Định nghĩa và khái niệm về cận thị học đường

Cận thị học đường là tình trạng mắt không thể nhìn rõ các vật ở xa, chủ yếu xảy ra ở học sinh trong độ tuổi đi học. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Thăng Long năm 2024, cận thị là một bệnh lý về khúc xạ mắt, trong đó hình ảnh được tập trung trước võng mạc thay vì trên võng mạc. Hiện nay, cận thị học đường đang trở thành vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng tại Việt Nam. Tỷ lệ học sinh bị cận thị tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các thành phố lớn. Bệnh cận thị không chỉ ảnh hưởng đến khả năng học tập mà còn tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển toàn diện của học sinh.

1.1. Phân loại cận thị học đường

Cận thị được chia thành ba mức độ: cận thị nhẹ (dưới -3 độ), cận thị vừa (-3 đến -6 độ) và cận thị nặng (trên -6 độ). Cận thị học đường thường phát triển từ cận thị nhẹ sang cận thị vừa nếu không được phòng chống kịp thời. Những trường hợp cận thị nặng có thể dẫn đến biến chứng mắt nguy hiểm.

1.2. Sơ đồ quang học của mắt cận thị

Mắt cận thị có chiều dài trục nhãn cầu dài hơn so với mắt bình thường. Điều này làm cho các tia sáng hội tụ trước võng mạc, dẫn đến hình ảnh mờ khi nhìn xa. Cận thị học đường xảy ra khi sự thay đổi cấu trúc mắt được kích thích bởi các yếu tố môi trường và thói quen sinh hoạt.

II. Thực trạng cận thị ở học sinh trung học cơ sở năm 2024

Theo luận văn thạc sĩ Y tế Công cộng của Vũ Đoan Trâm tại Trường Đại học Thăng Long (2024), thực trạng cận thị ở học sinh Trường THCS Lam Sơn, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng cho thấy tỷ lệ khá cao. Nghiên cứu này thực hiện kiểm tra mắt khoa học cho hàng trăm học sinh để xác định tình trạng cận thị. Kết quả cho thấy cận thị học đường đang gia tăng đáng kể, đặc biệt ở các khối lớp cao hơn. Những triệu chứng như mệt mỏi mắt, nhìn mờ sau giờ học là những dấu hiệu phổ biến. Vấn đề cận thị cần được quan tâm từ sớm để tránh những biến chứng nặng nề.

2.1. Tỷ lệ cận thị theo giới tính

Nghiên cứu cận thị học đường 2024 cho thấy sự khác biệt trong tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ học sinh. Nữ sinh có tỷ lệ cận thị cao hơn so với nam sinh. Sự chênh lệch này có thể liên quan đến thời gian sử dụng thiết bị điện tử và thói quen học tập khác nhau giữa hai giới.

2.2. Tỷ lệ cận thị theo khối lớp

Tình trạng cận thị tăng dần theo từng khối lớp, từ lớp 6 đến lớp 9. Học sinh lớp 9 có tỷ lệ cận thị cao nhất. Điều này phản ánh tác động của áp lực học tập, thời gian đọc sách và sử dụng thiết bị điện tử kéo dài.

III. Các yếu tố liên quan đến cận thị học đường

Nghiên cứu cận thị học đường 2024 tại Trường Đại học Thăng Long xác định rằng yếu tố liên quan đến cận thị rất đa dạng. Các yếu tố này bao gồm: yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính), yếu tố gia đình (tiền sử cận thị trong gia đình), yếu tố học tập (thời gian học, tư thế ngồi), yếu tố môi trường (ánh sáng), và yếu tố sinh hoạt (sử dụng điện thoại, chơi game). Cận thị học đường thường phát sinh từ sự kết hợp của nhiều yếu tố này. Việc hiểu rõ những yếu tố này là chìa khóa để xây dựng các biện pháp phòng chống hiệu quả.

3.1. Yếu tố học tập và tư thế ngồi

Yếu tố học tập bao gồm thời gian học, khoảng cách từ mắt đến sách vở, và tư thế ngồi. Tư thế ngồi sai lệch, khoảng cách quá gần hoặc quá xa là những yếu tố quan trọng gây cận thị học đường. Bàn ghế không phù hợp ở trường cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

3.2. Yếu tố sử dụng thiết bị điện tử

Sử dụng điện thoại, máy tính, và chơi game trong thời gian dài là yếu tố lớn gây cận thị học đường. Năm 2024, nghiên cứu cho thấy thời gian sử dụng thiết bị điện tử trung bình của học sinh tăng đáng kể, trực tiếp liên quan đến tỷ lệ cận thị cao hơn.

3.3. Yếu tố di truyền và hoạt động ngoài trời

Lịch sử gia đình có cận thịyếu tố nguy cơ mạnh. Bên cạnh đó, thời gian hoạt động ngoài trời ít ỏi cũng làm tăng nguy cơ cận thị học đường. Ánh sáng tự nhiên và không gian xanh giúp phòng chống bệnh hiệu quả.

IV. Biện pháp phòng chống cận thị học đường hiệu quả

Phòng chống cận thị học đường cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, và cộng đồng. Các biện pháp chính bao gồm: kiểm tra mắt định kỳ cho học sinh, cải thiện điều kiện học tập, tăng thời gian hoạt động ngoài trời, giảm thời gian sử dụng thiết bị điện tử, và nâng cao kiến thức về dự phòng cận thị. Theo luận văn năm 2024, những học sinh có kiến thức dự phòng tốt có tỷ lệ cận thị thấp hơn. Giáo dục sức khỏe mắt cần được triển khai rộng rãi trong các trường học.

4.1. Kiểm tra mắt và can thiệp sớm

Kiểm tra mắt định kỳ giúp phát hiện sớm các trường hợp cận thị. Can thiệp sớm bằng kính sửa lỗi khúc xạ, bài tập mắt, và thay đổi thói quen sinh hoạt có thể ngăn chặn tiến triển của bệnh. Nhà trường nên tổ chức kiểm tra mắt ít nhất 2 lần/năm.

4.2. Cải thiện môi trường học tập

Môi trường học tập tốt với ánh sáng đủ, bàn ghế phù hợp, và khoảng cách hợp lý là điều kiện cần để phòng chống cận thị. Nhà trường cần đầu tư cải tạo cơ sở vật chất và giáo dục học sinh về tư thế ngồi đúng.

4.3. Tăng hoạt động ngoài trời và giảm thiết bị điện tử

Hoạt động ngoài trời ít nhất 2 giờ/ngày giúp phòng chống cận thị hiệu quả. Giảm thời gian sử dụng điện thoại, máy tính cùng với áp dụng quy tắc 20-20-20 (mỗi 20 phút nhìn xa 20 giây) là những biện pháp dự phòng cần thiết cho học sinh.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm liên quan đến cận thị 1. Khái niệm về cận thị Cận thị là tật khúc xạ mà người bệnh chỉ có thể nhìn rõ vật ở gần mà không nhìn rõ được vật ở xa, độ cận càng cao khả năng nhìn xa sẽ càng giảm đi. Người mắc cận thị có khuynh hướng khép mắt lại một chút khi nhìn những vật ở xa, vì vậy cận thị được hiểu là “tầm nhìn gần”. Để nhìn rõ những vật ở xa phải giảm độ khúc xạ của giác mạc hoặc sử dụng thấu kính phân kỳ phù hợp [5].

Sơ đồ quang học mắt cận thị [5] Nguồn: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh về mắt – Bộ Y tế [5] Cận thị là loại hình tật khúc xạ phổ biến nhất của mắt, có công suất quang học quá cao so với độ dài trục nhãn cầu. Ở mắt cận không điều tiết, ánh sáng từ vật thể đến mắt tập trung phía trước võng mạc thay vì tập trung trên võng mạc. Điều này làm cho vật thể ở xa bị mờ và các đối tượng ở gần xuất hiện bình thường [5]. Nguyên nhân gây cận thị Về cơ chế bệnh sinh, ta có thể chia cận thị thành 2 loại: cận thị khúc xạ (yếu tố môi trường) và cận thị trục (yếu tố di truyền).

Cận thị khúc xạ: Xảy ra do lực khúc xạ của mắt quá lớn (do lực khúc xạ của giác mạc hoặc thể thủy tinh quy định), trong khi chiều dài trục nhãn cầu 4 bình thường. Loại này hay gặp trong cận thị học đường. Khi mắt phải nhìn gần với cường độ lớn và trong một thời gian dài, thể thủy tinh bị phồng lên làm tăng độ hội tụ của mắt. Lúc này muốn nhìn rõ, phải đưa hình ảnh của vật lại gần mắt.

Những sự vật ở xa, mắt nhìn không rõ ở các mức độ khác nhau tùy theo mức độ cận thị. Cận thị học đường xuất hiện ở lứa tuổi đi học, xuất hiện càng sớm thì khả năng tiến triển càng nhanh và nặng. Cận thị học đường đơn thuần ít khi quá 6 đi-ốp và thường không kèm theo dãn mỏng võng mạc và các nguy cơ khác của đáy mắt. Cận thị trục: Xảy ra do trục nhãn cầu quá dài, trong khi lực khúc xạ của mắt bình thường.

Trục nhãn cầu bị dài ra nguyên nhân là do cấu trúc của thành nhãn cầu bị dãn mỏng. Loại cận thị này thường có tính chất gia đình và thường xảy ra rất sớm ngay khi trẻ con nhỏ tuổi, chưa đi học. Cận thị tiến triển rất nhanh, làm thị lực giảm sút nhiều, đồng thời làm võng mạc bị dãn mỏng dễ dẫn tới nguy cơ thoái hóa hắc võng mạc, rách võng mạc, thậm chí gây bong võng mạc dẫn tới mù loa. Ở lứa tuổi học sinh, yếu tố chính dẫn đến cận thị là do tác động của môi trường sinh hoạt và môi trường học.

Môi trường sinh hoạt gồm: thời gian sử dụng các linh kiện điện tử, thời gian đọc sách báo, thời gian ngủ. Môi trường học tập gồm: khối lớp, kích thước bàn ghế, thời gian học, góc học tập ở nhà, tư thế học ở nhà. Ngoài ra còn có một số yếu tố bất lợi khác như: đọc sách truyện quá nhiều, đọc ở nơi thiếu ánh sáng hay trên các phương tiện di chuyển, chơi điện tử quá lâu khiến mắt phải điều tiết trong khoảng thời gian quá dài làm tiến triển cận thị. Đánh giá cận thị Có nhiều phương pháp khám xác định cận thị học đường.

Trên lâm sàng thường áp dụng một số phương pháp đánh giá cận thị học đường sau: - Phương pháp thử kính chủ quan (Dondes): phương pháp này đơn giản, thuận tiện vì chỉ cần một hộp kính và một bảng thị lực. Tuy nhiên do chỉ căn 5 cứ vào chủ quan của bệnh nhân nên còn chưa thật chính xác, do không loại trừ được sự điều tiết của mắt [2]. - Phương pháp soi bóng đồng tử (Streak retinoscopy): đây là phương pháp khách quan, người đo có thể xác định chính xác tình trạng khúc xạ của mắt với gương hoặc máy soi bóng đồng tử. Tuy nhiên, phương pháp này ít được áp dụng trong các nghiên cứu tại cộng đồng vì sẽ mất nhiều thời gian khi khám và đòi hỏi người khám phải có nhiều kinh nghiệm mới có kết quả chính xác [2].

- Đo khúc xạ tự động (Autorefratometer): là một phương pháp khách quan để xác định cận thị học đường. Có ưu điểm là khám và cho kết quả nhanh, khách quan và hiện nay được khuyến cáo nên sử dụng trong các nghiên cứu tại cộng đồng [2].2 Thực trạng cận thị ở học sinh trường trung học cơ sở Trên thế giới Cận thị là một vấn đề nhãn khoa phổ biến trên thế giới và đã trở nên quan trọng trong các nghiên cứu dịch tễ học. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy cận thị đang gia tăng trên toàn thế giới, với một nghiên cứu gần đây ước tính rằng trung bình 30% dân số thế giới hiện đang bị cận thị và đến năm 2050, gần 50% sẽ bị cận thị, tức là 5 tỷ người. Các địa điểm có tỷ lệ hiện mắc cận thị cao như Đông Á và Đông Nam Á, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc và Nhật Bản có tỷ lệ cận thị từ 80 đến 90% [49].

Tỷ lệ hiện mắc cận thị trên thế giới [49] Nguồn: Matsumura, Saiko, Ching-Yu, Cheng và Saw, Seang-Mei (2020), "Global epidemiology of myopia", Updates on Myopia: A Clinical Perspective [49] Theo kết quả một nghiên cứu của Holden BA và cộng sự (2016), tỷ lệ người bị cận thị là 1,4 triệu người vào năm 2000, đến năm 2050 dự đoán con số này tăng lên 4,8 triệu người [42]. Các nước tại Đông và Đông Nam Á, cụ thể các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc và Nhật Bản có tỷ lệ cận thị cao (80%-90%) đặc biệt ở lứa tuổi học đường. Tuy nhiên tỷ lệ mắc cận thị đang tăng lên và tại Mỹ tỷ lệ mắc bệnh với 42% và tăng gấp gần 3 lần trong ba thập kỷ qua [29]. Theo một nghiên cứu tổng quan dịch tễ học về bệnh cận thị học đường ở trẻ em trên toàn thế giới của Andrzej Grzybowski và cộng sự (2020) nghiên cứu các tài liệu hiện hành và các yếu tố nguy cơ gây cận thị học đường ở trẻ em, tỷ lệ mắc cận thị ở học sinh cao nhất được báo cáo ở Đông Á và Singapore, các khu vực thành thị của Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc [27].

7 Tỷ lệ cận thị vẫn cao hơn ở châu Á (60%) so với châu Âu (40%); tỷ lệ cận thị đặc biệt cao ở trẻ em đi học ở Đông Á (73%) và tỷ lệ cao ở Bắc Mỹ (42%). Tỷ lệ lưu hành thấp dưới 10% được mô tả ở trẻ em châu Phi và Nam Mỹ. Trong các nghiên cứu gần đây, các yếu tố nguy cơ cận thị ở học sinh bao gồm thời gian ở ngoài trời ít và gần nơi làm việc, tiếp xúc với ánh sáng mờ, sử dụng đèn LED khi làm bài tập về nhà, thời gian ngủ ít, khoảng cách đọc dưới 25 cm và sống trong môi trường thành thị [27]. Các kết quả nghiên cứu trước đây cũng cho thấy rằng tỷ lệ cận thị tăng đáng kể theo tuổi và tỷ lệ cận thị bắt nguồn từ trường học chiếm gần 50% số người mắc cận thị.

Nghiên cứu của Mingguang He (2015) cho thấy tỷ lệ cận thị mắc mới hàng năm ở trẻ em 7 tuổi trong khoảng từ 10% đến 14% [32]. Ở trẻ em, tỷ lệ cận thị cao hơn đáng kể ở các nước thành thị Đông Á (49,7 - 62,0% ở trẻ em 12 tuổi) so với các nước khác (6,0 - 20,0% ở trẻ em 12 tuổi). Tương tự như vậy, ở thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ tuổi, tỷ lệ cận thị cao hơn ở các nước Đông Á (65,5 - 96,5%) so với các nước khác (12,8 - 35,0%) [49]. Ở một số quốc gia, tỷ lệ cận thị đã tăng lên trong những năm qua.

Trong một nghiên cứu ở Bắc Kinh, Trung Quốc (2017), tỷ lệ cận thị ở một nhóm học sinh 15 tuổi đã tăng từ 55,95% năm 2005 lên 65,48% vào năm 2015 [50]. Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em từ 10 đến 15 tuổi là 42,4% và ở độ tuổi 15 đến 20 là 53,9% [34]. Tỷ lệ hiện mắc cận thị ở trẻ em cao đặt ra thách thức lớn về sức khỏe cộng đồng do suy giảm thị lực. Tổn thất năng suất tiềm ẩn toàn cầu liên quan đến gánh nặng suy giảm thị lực trong năm 2015 ước tính khoảng 244 tỷ USD do cận thị không được điều trị và 6 tỷ USD do thoái hóa điểm vàng cận thị.

Trẻ cận thị sớm là nhóm có nguy cơ cao vì thời gian mắc bệnh lâu hơn, tiến triển cận thị cao hơn và có nguy cơ bị cận thị cao cộng với thoái hóa điểm vàng cận thị. Tuổi bắt đầu cận thị hoặc thời gian tiến triển cận thị là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất của cận thị nặng sau này [27]. 8 Tại Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ cận thị đang có xu hướng tăng nhanh hiện nay không chỉ ở thành thị mà ở cả khu vực nông thôn, miền núi. Năm 2006, trong hội nghị chống mù lòa, tác giả Tôn Thị Kim Thanh đã báo cáo tỷ lệ mắc cận thị ở lứa tuổi học đường của Việt Nam là từ 10% - 12% ở học sinh nông thôn và từ 17% - 25% ở học sinh thành thị [20].

Đến năm 2014, theo nghiên cứu của Đỗ Như Hơn, tỷ lệ cận thị của nước ta từ 10% - 15% ở nông thôn và từ 40% - 50% ở học sinh thành thị [12]. Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên cả nước, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc cận thị ở lứa tuổi học sinh không ngừng gia tăng, và tăng dần theo lứa tuổi, thấp nhất ở tiểu học, sau đó là trung học cơ sở và cao nhất ở Trung học phổ thông. Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền năm 2019 tại một số tỉnh ở Việt Nam trên 7217 học sinh đại diện cho khu vực thành phố và nông thôn, và đại diện cho bậc học, tỷ lệ giảm thị lực của học sinh chiếm 34,8% và tăng dần theo bậc học (tiểu học là 23,2%, trung học cơ sở là 36,7%, và trung học phổ thông là 43,8%, p < 0,001) [14]. Theo kết quả khảo sát trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Trúc năm 2017 tỷ lệ học sinh mắc bệnh cận thị chiếm 43% [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ