Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quyền tác giả thiết lập cơ chế bảo hộ pháp lý cho các sáng tạo văn học, nghệ thuật và khoa học, đồng thời làm phát sinh mối quan hệ tương tác về mặt lợi ích giữa ba nhóm chủ thể: tác giả (người trực tiếp sáng tạo), chủ sở hữu quyền tác giả (chủ thể nắm giữ quyền tài sản và đầu tư kinh tế) và công chúng (những người có nhu cầu tiếp cận, thụ hưởng và khai thác tác phẩm). Tác phẩm trí tuệ chứa đựng tiềm năng tạo ra giá trị kinh tế và giá trị văn hóa - giáo dục to lớn, dẫn đến việc các bên đều hướng đến tối đa hóa quyền lợi của mình. Nếu hệ thống pháp luật quy định độc quyền quá mức cho tác giả và chủ sở hữu, công chúng sẽ gặp rào cản lớn khi tiếp cận tri thức; ngược lại, nếu cho phép công chúng tự do tiếp cận không có kiểm soát, quyền lợi của chủ thể sáng tạo sẽ bị xâm phạm, làm suy giảm động lực sáng tạo trong xã hội. Do đó, nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích đóng vai trò là cơ sở nền tảng để Nhà nước xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về quyền tác giả.

Bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện thể chế quyền tác giả khi đất nước hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thông qua việc gia nhập các điều ước đa phương và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPS 1994, Hiệp ước WCT 1996, Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA. Đặc biệt, thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu trùng với giai đoạn Quốc hội khóa XV xem xét và biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ vào ngày 16 tháng 6 năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2023).

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về quyền tác giả, cấu trúc lợi ích của các chủ thể và bản chất của nguyên tắc cân bằng đối trọng lợi ích.
  2. Phân tích, đánh giá hệ thống quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành trong việc cụ thể hóa nguyên tắc cân bằng đối trọng lợi ích.
  3. Khảo sát thực tiễn thực thi nguyên tắc thông qua các tiêu chí xác định hành vi sử dụng hợp pháp tác phẩm và thực tiễn xét xử của Tòa án, có đối chiếu với chuẩn mực quốc tế và pháp luật một số quốc gia.
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, bảo đảm thực thi hiệu quả nguyên tắc cân bằng đối trọng lợi ích.
  • Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng dưới góc độ lý luận pháp lý, quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Tòa án.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019), Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, đồng thời tiếp cận có chọn lọc các điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022; mở rộng nghiên cứu hai khái niệm pháp lý là "nguyên lý cạn quyền" và "nhập khẩu song song" trong quyền tác giả.
    • Về không gian và thời gian: Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam có so sánh với pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Thụy Điển, Trung Quốc và các điều ước quốc tế liên quan; thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ ngày 14 tháng 3 năm 2022 đến ngày 24 tháng 6 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý căn bản được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và các điều ước quốc tế. Các khái niệm và quy phạm trọng tâm bao gồm: khái niệm quyền tác giả (khoản 2 Điều 4), căn cứ phát sinh quyền (khoản 1 Điều 6), các quyền nhân thân (Điều 19), các quyền tài sản (Điều 20), giới hạn quyền sở hữu trí tuệ (Điều 7), chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ (Điều 8), các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả (Điều 15), các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép và không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25), các trường hợp sử dụng không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 26), các dạng chủ thể quyền tác giả (Điều 13, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42).

Văn bản pháp luật và điều ước quốc tế được sử dụng làm cơ sở đối chiếu gồm:

  • Văn bản pháp luật trong nước: Nghị định số 142/HĐBT (1986), Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả năm 1994, Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005, 2015, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022, Nghị định số 22/2018/NĐ-CP.
  • Điều ước quốc tế và luật nước ngoài: Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPS 1994, Hiệp ước WCT 1996, Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA; Luật Bản quyền Hoa Kỳ (Điều 107, Điều 108), Luật Sở hữu trí tuệ Cộng hòa Pháp (Điều L122-5-8), Luật Quyền tác giả Nhật Bản (Điều 30, Điều 32), Luật Quyền tác giả Thụy Điển (Điều 14, 16, 22), Luật Bản quyền Trung Quốc (Điều 24).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Dùng để truy nguyên và phân tích tiến trình hình thành của quyền tác giả và sự phát triển của nguyên tắc cân bằng đối trọng lợi ích qua các giai đoạn lập pháp tại Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dùng để mổ xẻ từng điều khoản pháp luật thực định điều chỉnh quyền nhân thân, quyền tài sản, các ngoại lệ quyền tác giả, từ đó khái quát hóa thành cơ chế cân bằng lợi ích trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ.
  • Phương pháp so sánh luật học: Dùng để đối chiếu các quy định ngoại lệ quyền tác giả, quyền trích dẫn và sao chép của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và pháp luật của các quốc gia như Hoa Kỳ, Thụy Điển, Nhật Bản, Trung Quốc nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp bình luận án: Dùng để phân tích các bản án, tình huống tranh chấp thực tế tại Tòa án nhằm đánh giá tính tương thích và vướng mắc khi áp dụng quy định pháp luật vào thực tiễn xét xử.

Nguồn dữ liệu của đề tài được khai thác từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Đại học Luật Hà Nội, sách chuyên khảo bình luận bản án, kỷ yếu hội thảo khoa học cấp trường năm 2021, các luận án tiến sĩ (Võ Trung Hậu, 2020), luận văn thạc sĩ (Nguyễn Thị Tuyết Nga, 2012; Đặng Hữu Tuấn, 2018) và các bài báo khoa học pháp lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Quy định của pháp luật về nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận và rà soát hệ thống quy định pháp luật thể hiện nguyên tắc cân bằng lợi ích:

  1. Mối tương quan về lợi ích giữa các chủ thể:

    • Khái niệm và đặc điểm: Quyền tác giả là quyền đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (khoản 2 Điều 4 Luật SHTT). Ba đặc điểm pháp lý cơ bản: bảo hộ hình thức sáng tạo (không bảo hộ ý tưởng thuần túy); bảo hộ theo cơ chế tự động (phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới dạng vật chất nhất định mà không bắt buộc đăng ký, theo khoản 1 Điều 6 Luật SHTT); và bảo hộ tác phẩm có tính nguyên gốc (sáng tạo trực tiếp, không sao chép).
    • Chủ thể của quyền tác giả: Phân định rõ giữa tác giả (người trực tiếp sáng tạo một phần hoặc toàn bộ tác phẩm theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP; loại trừ người chỉ hỗ trợ, góp ý, cung cấp tư liệu theo khoản 3 Điều 6) và chủ sở hữu quyền tác giả (tổ chức, cá nhân nắm giữ các quyền tài sản theo Điều 36 Luật SHTT). Các trường hợp xác lập chủ sở hữu gồm: tác giả tự đầu tư (Điều 37), các đồng tác giả (Điều 38), tổ chức giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng (Điều 39), người thừa kế (Điều 40), bên nhận chuyển giao quyền (Điều 41) và Nhà nước (Điều 42 đối với tác phẩm khuyết danh, tác phẩm không có người thừa kế hoặc tác phẩm được hiến tặng, điển hình như trường hợp bài hát "Tiến quân ca" của cố nhạc sĩ Văn Cao).
    • Quyền nhân thân và quyền tài sản: Quyền nhân thân (Điều 19) gồm nhóm không gắn với tài sản (đặt tên tác phẩm, đứng tên/nêu tên, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm - không được chuyển giao) và nhóm gắn với tài sản (quyền công bố tác phẩm - được chuyển giao). Quyền tài sản (Điều 20) bao gồm quyền làm tác phẩm phái sinh, sao chép, biểu diễn, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng.
    • Lợi ích công chúng và sự mâu thuẫn lợi ích: Công chúng có nhu cầu chính đáng trong việc tiếp cận, khai thác tác phẩm để học tập, nghiên cứu và phát triển văn hóa. Xung đột phát sinh khi chủ sở hữu muốn khai thác tối đa độc quyền kinh tế, đòi hỏi pháp luật phải can thiệp để lập lại trạng thái cân bằng.
  2. Quy định pháp luật SHTT Việt Nam cụ thể hóa nguyên tắc:

    • Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ (Điều 7): Xác định chủ thể chỉ được thực hiện quyền trong phạm vi và thời hạn luật định; việc thực hiện quyền không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng và quyền lợi của người khác; Nhà nước có quyền cấm, hạn chế hoặc buộc chuyển giao quyền sử dụng vì mục tiêu an ninh, quốc phòng, dân sinh.
    • Chính sách của Nhà nước (Điều 8): Bảo hộ quyền SHTT gắn liền với bảo đảm hài hòa lợi ích xã hội; đặt điều kiện tác phẩm không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng; hỗ trợ tài chính cho cơ quan nhà nước mua bản quyền để phổ biến các tác phẩm có giá trị giáo dục, tư tưởng, nghệ thuật.
    • Các đối tượng loại trừ không bảo hộ (Điều 15): Loại trừ tin tức thời sự thuần túy đưa tin (khoản 1 Điều 19 Nghị định 22/2018/NĐ-CP); văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản tư pháp và bản dịch chính thức; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu. Việc loại trừ này nhằm tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận thông tin thiết yếu.
    • Các trường hợp ngoại lệ không phải xin phép, không phải trả tiền (Điều 25): Phân tích chi tiết các quyền sử dụng hợp pháp gồm:
      • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân (điểm a khoản 1 Điều 25).
      • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu, giới hạn không quá một bản và không phân phối bản sao tới công chúng (điểm đ khoản 1 Điều 25 và khoản 2 Điều 22 Nghị định 22/2018/NĐ-CP).
      • Trích dẫn hợp lý tác phẩm để bình luận, minh họa mà không làm sai ý tác giả (điểm b khoản 1 Điều 25).
      • Trích dẫn tác phẩm để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, phát thanh, truyền hình, phim tài liệu (điểm c khoản 1 Điều 25).
      • Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường không nhằm mục đích thương mại (điểm d khoản 1 Điều 25).
      • Biểu diễn tác phẩm sân khấu, nghệ thuật trong sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền (điểm e khoản 1 Điều 25).
      • Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc giảng dạy (điểm g khoản 1 Điều 25).
      • Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng trưng bày nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh tác phẩm (điểm h khoản 1 Điều 25).
    • Tiếp cận vấn đề "cạn quyền" (exhaustion of rights) và "nhập khẩu song song" (parallel importation) như những cơ chế mở rộng nhằm bảo đảm lưu thông hàng hóa và quyền tiếp cận của công chúng đối với bản sao tác phẩm hợp pháp.

Chương 2: Vấn đề thực thi nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật

Chương 2 tập trung đánh giá thực tế áp dụng và đề xuất sửa đổi pháp luật:

  1. Thực thi nguyên tắc thông qua các trường hợp sử dụng hợp pháp tác phẩm:

    • Tiêu chí xác định: Phân tích việc áp dụng "phép thử ba bước" (three-step test) bắt nguồn từ Điều 9(2) Công ước Berne 1886 và Điều 13 Hiệp định TRIPS 1994: (i) chỉ áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt; (ii) không làm phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm; (iii) không làm phương hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả/chủ sở hữu.
    • Đánh giá thực tiễn xét xử: Khảo sát các vụ tranh chấp quyền tác giả điển hình tại Tòa án liên quan đến hành vi trích dẫn, sao chép tác phẩm, xác định tư cách tác giả/đồng tác giả và việc lạm dụng biện pháp kỹ thuật số để ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp của công chúng.
  2. Các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:

    • Kiến nghị 1 (Điều 25 Luật SHTT): Hoàn thiện quy định về các điều kiện chung cần đáp ứng đối với các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao; bổ sung nguyên tắc "phép thử ba bước" thành điều khoản khung định tính chung để Tòa án có cơ sở đánh giá tính hợp lý của hành vi sử dụng.
    • Kiến nghị 2 (Điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật SHTT và khoản 2 Điều 22 Nghị định 22/2018/NĐ-CP): Sửa đổi quy định sao chép tác phẩm lưu trữ thư viện; cho phép tạo nhiều hơn một bản sao trong trường hợp bảo quản, phục chế tài liệu nguy cơ hư hại; mở rộng phạm vi lưu trữ và phục vụ bạn đọc dưới hình thức bản sao kỹ thuật số trong mạng nội bộ thư viện không thương mại.
    • Kiến nghị 3 (Điểm b khoản 1 Điều 25 Luật SHTT): Làm rõ tiêu chí "trích dẫn hợp lý" bằng các chỉ dẫn cụ thể về tỷ lệ, dung lượng phần trích dẫn so với tác phẩm gốc và tác phẩm mới, đồng thời gắn với mục đích phê bình, giới thiệu, minh họa để hạn chế cách hiểu tùy tiện.
    • Kiến nghị 4 (Khoản 12 Điều 28 Luật SHTT): Bổ sung điều khoản ngoại lệ cho phép tổ chức, cá nhân được quyền hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật tự bảo vệ quyền tác giả trong trường hợp hành vi đó nhằm phục vụ việc tiếp cận và sử dụng tác phẩm thuộc các trường hợp ngoại lệ luật định (như sao chép nghiên cứu, trích dẫn hợp pháp, tiếp cận của người khuyết tật).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận hệ thống hóa cơ chế cân bằng lợi ích trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, chỉ ra các điểm bất cập trong các quy định ngoại lệ quyền tác giả hiện hành và đề xuất phương án sửa đổi cụ thể.

Bảng tổng hợp so sánh quy định về ngoại lệ quyền tác giả giữa pháp luật Việt Nam (Luật SHTT 2005 sửa đổi) và một số quốc gia:

Tiêu chí so sánh Pháp luật Việt Nam (Luật SHTT 2005 sửa đổi 2009, 2019) Pháp luật Hoa Kỳ Pháp luật Thụy Điển Pháp luật Nhật Bản / Trung Quốc
Sao chép cá nhân Chỉ cho phép 1 bản cho nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân; chưa ghi nhận mục đích học tập cá nhân. Cho phép sao chép cho học tập, nghiên cứu, giảng dạy (Điều 107). Cho phép sao chép cho mục đích sử dụng cá nhân hoặc gia đình. Nhật Bản cho phép sao chép cho mục đích cá nhân/gia đình (Điều 30).
Sao chép thư viện Tối đa 1 bản để lưu trữ nghiên cứu; cấm phân phối bản sao (kể cả bản kỹ thuật số) tới công chúng. Cho phép tái bản nhiều hơn 1 bản sao nhằm lưu trữ, nghiên cứu và phục vụ công chúng (Điều 108). Cho phép làm bản sao lưu trữ, nghiên cứu và phân phối cho người dùng đọc qua thiết bị (Điều 16). Trung Quốc mở rộng cho thư viện, bảo tàng, trung tâm văn hóa sao chép bảo quản, trưng bày (Điều 24).
Tiêu chí trích dẫn hợp lý Quy định điều kiện chung tại Nghị định 22/2018/NĐ-CP; chưa lượng hóa tỷ lệ và dung lượng trích dẫn. Đánh giá dựa trên 4 yếu tố của học thuyết Sử dụng hợp lý (Fair Use). Phù hợp thông lệ và trong phạm vi cần thiết cho mục đích sử dụng (Điều 22). Quy định rõ mục đích phê bình, đưa tin, nghiên cứu, minh họa luận điểm (Nhật Bản Điều 32, Trung Quốc Điều 24).
Ngoại lệ biện pháp kỹ thuật Khoản 12 Điều 28 quy định hành vi vô hiệu biện pháp công nghệ là hành vi xâm phạm; chưa có ngoại lệ. Có quy định miễn trừ đối với một số hành vi vô hiệu hóa công nghệ vì mục đích phi thương mại hợp pháp. Áp dụng cơ chế bảo đảm người dùng được tiếp cận các ngoại lệ luật định. Cho phép vượt rào cản kỹ thuật nếu phục vụ mục đích sử dụng hợp pháp theo luật định.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất:

    1. Thể chế hóa nguyên tắc "phép thử ba bước" vào quy định chung của Điều 25 Luật SHTT.
    2. Nới lỏng giới hạn số lượng và hình thức sao chép kỹ thuật số trong hoạt động thư viện phi thương mại (Điều 25 Luật SHTT và Điều 22 Nghị định 22/2018/NĐ-CP).
    3. Xây dựng hướng dẫn cụ thể về dung lượng và tính chất của hành vi "trích dẫn hợp lý".
    4. Bổ sung quy định ngoại lệ đối với hành vi vô hiệu hóa biện pháp kỹ thuật tự bảo vệ tại khoản 12 Điều 28 Luật SHTT khi phục vụ mục đích sử dụng hợp pháp.
  • Đóng góp mới của đề tài: Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây (như khóa luận của Võ Hoàng Yến năm 2002, Dương Thị Hải Lê năm 2007) nhưng cập nhật hệ thống pháp luật đến thời điểm tháng 6/2022, kết hợp bối cảnh gia nhập các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) và phân tích các vấn đề mới như quyền tiếp cận số, nguyên lý cạn quyền và ngoại lệ biện pháp kỹ thuật số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do khung thời gian thực hiện khóa luận diễn ra từ 14/3/2022 đến 24/6/2022, trùng với thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ vừa được thông qua (ngày 16/6/2022) và chưa có hiệu lực (từ 01/01/2023), tác giả chưa thể phân tích hệ thống văn bản hướng dẫn dưới luật của luật mới; dữ liệu thực tiễn xét xử tại Tòa án chủ yếu dựa trên các bản án công khai điển hình, chưa bao quát toàn bộ các tranh chấp thực tế trên phạm vi cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Đánh giá tác động và hiệu quả thực thi thực tế của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 sau khi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023.
    • Nghiên cứu cơ chế bảo hộ quyền tác giả và xác định quyền sở hữu đối với các tác phẩm do Trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra trong bối cảnh công nghệ số phát triển.
    • Phân tích sâu giải pháp cân bằng giữa hệ thống quản lý quyền kỹ thuật số (DRM) với quyền tiếp cận tài liệu của người khuyết tật và các cơ sở giáo dục trực tuyến.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ; các luật sư, chuyên viên pháp chế doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất bản, truyền thông, công nghệ; cán bộ quản lý thư viện và các cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phần phân tích chi tiết điều kiện áp dụng từng trường hợp ngoại lệ quyền tác giả tại Điều 25 Luật SHTT và Điều 22, 23 Nghị định 22/2018/NĐ-CP.
    • Bảng so sánh và phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Hoa Kỳ, Thụy Điển, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc) về quyền sao chép và trích dẫn.
    • Hệ thống 4 nhóm kiến nghị sửa đổi cụ thể đối với Điều 25 và Điều 28 Luật SHTT.

Câu hỏi thường gặp

1. Người hỗ trợ cung cấp tư liệu hoặc công cụ, thiết bị có được công nhận là đồng tác giả của tác phẩm không?
Căn cứ khoản 3 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu, công cụ phương tiện cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả. Quyền tác giả chỉ thuộc về người trực tiếp tham gia lao động trí tuệ để sáng tạo ra tác phẩm.

2. Bài hát "Tiến quân ca" của cố nhạc sĩ Văn Cao thuộc hình thức sở hữu quyền tác giả nào theo phân tích trong khóa luận?
Bài hát "Tiến quân ca" thuộc trường hợp Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả theo điểm c khoản 1 Điều 42 Luật SHTT, thông qua việc đại diện gia đình cố nhạc sĩ (chủ sở hữu quyền tác giả do thừa kế) lập văn bản hiến tặng quyền sở hữu cả phần nhạc và lời cho nhân dân và Nhà nước Việt Nam.

3. Điểm khác biệt cơ bản giữa quy định sao chép tác phẩm cho cá nhân tại Luật SHTT 2005 sửa đổi và Luật sửa đổi năm 2022 là gì?
Theo điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT 2005 (sửa đổi 2009, 2019), việc tự sao chép một bản chỉ áp dụng cho mục đích "nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân". Luật sửa đổi năm 2022 đã bổ sung thêm mục đích "học tập của cá nhân" và bổ sung điều kiện loại trừ: "Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép công cộng".

4. Khóa luận kiến nghị bổ sung ngoại lệ nào đối với quy định cấm vô hiệu hóa biện pháp kỹ thuật tại khoản 12 Điều 28 Luật SHTT?
Khóa luận kiến nghị bổ sung điều khoản loại trừ hành vi vi phạm tại khoản 12 Điều 28 đối với trường hợp việc vô hiệu hóa hoặc vượt qua biện pháp kỹ thuật tự bảo vệ của chủ sở hữu nhằm mục đích thực hiện các quyền sử dụng hợp pháp luật định, như sao chép nghiên cứu, trích dẫn hợp lý hoặc chuyển đổi định dạng cho người khuyết tật tiếp cận.

5. Vì sao văn bản quy phạm pháp luật và tin tức thời sự thuần túy không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo Điều 15 Luật SHTT?
Tin tức thời sự thuần túy đưa tin không có tính sáng tạo cá nhân; trong khi văn bản quy phạm pháp luật chứa các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc, đòi hỏi phải được phổ biến rộng rãi cho mọi công dân tiếp cận và chấp hành, nhằm bảo đảm trật tự pháp luật và lợi ích công cộng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Hãi đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc cân bằng đối trọng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. Thông qua phương pháp so sánh luật học và phân tích thực tiễn xét xử, đề tài đã chỉ ra các khoảng trống lập pháp liên quan đến các giới hạn quyền tác giả, ngoại lệ sao chép thư viện và biện pháp kỹ thuật số. Công trình đưa ra 4 nhóm giải pháp sửa đổi cụ thể nhằm hoàn thiện Luật Sở hữu trí tuệ, góp phần đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hài hòa lợi ích giữa hoạt động sáng tạo với quyền tiếp cận tri thức của xã hội.