Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực ti n áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra tại Việt Nam hiện nay. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền tác giả gây ra. 6 Ch 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ GÂY RA 1.
Khái quát về quyền tác giả 1. Khái niệm quyền tác giả Hiện nay, khi cuộc cách mạng công nghệ thông tin ngày càng bùng nổ mạnh mẽ, nền kinh tế dịch vụ ngày càng phát triển thì sự sáng tạo của con người là không có giới hạn và không ai có thể phủ định được những giá trị mà loại tài sản này mang lại cho chúng ta. Tuy nhiên, để giá trị của tài sản này trường tồn thì việc bảo vệ “trí tuệ” là rất quan trọng, đặc biệt trong xu thế phát triển kinh tế, hội nhập toàn cầu thì vấn đề này trở thành mối quan tâm hàng đầu. Xuất phát từ thực ti n, cấp thiết phải có một chế định điều chỉnh trực tiếp về quyền sở hữu trí tuệ, s u sát đến từng bộ phận, trong đó có quyền tác giả.
Thực ti n chứng minh tại các quốc gia có nền công nghiệp bản quyền phát triển thì đều có sự đóng góp phần vào GDP quốc gia. Con số này chiếm khoảng 10% và ngày càng có xu hướng gia tăng về tỷ trọng. Vì thế mà ở các quốc gia này, các hoạt động sáng tạo trí tuệ được khuyến khích phát triển và hàng loạt các chính sách bảo hộ được ra đời, nhất là các quy định về quyền tác giả. Quyền tác giả nói chung được hiểu là quyền nhân thân và quyền tài sản gắn với một tác phẩm là kết quả của hoạt động sáng tạo của tác giả.
Tuy nhiên, ở một số trường hợp, tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả thì chỉ có các quyền nhân thân không gắn với tài sản, như: được đặt tên cho tác phẩm; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;… Về phương diện khách quan, quyền tác giả là tổng thể các quy phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả, xác định các nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo và sử dụng các tác phẩm. 7 Về phương diện chủ quan, quyền tác giả là quyền dân sự cụ thể (quyền tài sản và quyền nhân thân) của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện hay không khởi kiện khi quyền của mình bị xâm phạm. Quyền tác giả còn được hiểu là quan hệ pháp luật dân sự. Đó là quan hệ xã hội giữa các tác giả, giữa chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác trong xã hội thông qua tác phẩm, dưới sự tác động của quy phạm pháp luật, quan hệ giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác được xác định.
Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được sáng tạo ra và được thể hiện dưới hình thức khách quan và được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, theo đó quan hệ về quyền tác giả được xác lập. Tóm lại, quyền tác giả được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả đối với tác phẩm. Quyền tác giả được phát sinh tự động, không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi tác phẩm của họ được hình thành dưới một hình thức thể hiện nhất định.
Đặc điểm quyền tác giả Quyền tác giả là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. ì vậy quyền tác giả mang đầy đủ các đặc điểm chung của quyền sở hữu trí tuệ là tính vô hình của các đối tượng; các đối tượng thuộc quyền chỉ được bảo hộ trong thời hạn nhất định. Ngoài ra, quyền tác giả còn có những đặc điểm riêng để phân biệt với các quyền sở hữu trí tuệ khác như sau: h h t uyề tá giả a gồ h g i tư g a g t h á g tạ ư ả h lập, h g ph thu v giá tr i u g v giá tr ghệ thuật Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Tuy nhiên, không phải tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học nào cũng trở thành đối tượng của quyền tác giả mà chỉ có những tác phẩm được hình 8 thành từ quá trình lao động sáng tạo của tác giả, không có sự sao chép từ các tác phẩm của người khác mới nhận được xem là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả.
Mọi cá nh n đều có quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nh n thể hiện một ý tưởng nào đó dưới một hình thức nhất định thì họ đều có quyền tác giả đối với tác phẩm đó, không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Tuy nhiên, đối với những nội dung thể hiện trong tác phẩm đi ngược lại lợi ích d n tộc, có ý bôi nhọ vĩ nh n hay chứa đựng những nội dung xúc phạm danh dự, nh n phẩm người khác hay có nội dung trái pháp luật, trái đạo đức xã hội…sẽ không được bảo hộ. h hai uyề tá giả chỉ ả h h h th th hiệ tá ph. Như đã thể hiện ở trên, điều kiện đầu tiên để đặt ra việc bảo hộ quyền tác giả là phải thể hiện ở một hình thức nhất định như bản hoạ đồ, sơ đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình kiến trúc hay tác phẩm báo chí, tác phẩm âm nhạc,… Và pháp luật về quyền tác giả sẽ chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi nó được tạo ra mà không bảo hộ nội dung sáng tạo tác phẩm.
Quyền tác giả đối với tác phẩm chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm bởi vì không ai có thể biết được một vấn đề đang nằm trong suy nghĩ của người khác. Những ý tưởng, kể cả cách sắp xếp, trình bày đã “có” trong suy nghĩ của tác giả nhưng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì không có căn cứ để công nhận và bảo hộ những điều chưa bộc lộ ra bên ngoài đó. Sự sáng tạo của tác giả không chỉ đem lại cho tác giả quyền tác giả đối với tác phẩm mà còn nhằm chống lại sự sao chép nó hoặc lấy và sử dụng hình thức trong tác phẩm gốc đã được thể hiện. Pháp luật về quyền tác giả không quy định về điều kiện bảo hộ liên quan đến nội dung và các giá trị nghệ thuật tác phẩm, trong khi đó quyền sở hữu công nghiệp bảo hộ nội dung của đối tượng.
Chính vì vậy, có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có cùng nội dung nhưng có sự sáng tạo trong hình thức thể hiện đều được pháp luật bảo vệ. 9 h a h h th á lập uyề th h ả h t g Từ thời điểm tạo ra tác phẩm, tác giả được bảo hộ về mặt pháp lý và có các quyền của người sáng tạo, bất kể tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Quyền tác giả phát sinh một cách mặc nhiên và nó được thiết lập từ thời điểm tác phẩm đó được thể hiện dưới một hình thức khách quan mà người khác có thể nhận biết được. Như vậy, pháp luật về quyền tác giả không bắt buộc nghĩa vụ đăng ký và nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền tác giả, bởi quyền này được tự động phát sinh khi ý tưởng của tác giả được thể hiện dưới hình thức nhất định - tác phẩm.
iệc đăng ký quyền tác giả chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh của đương sự khi có tranh chấp về quyền tác giả và một bên khởi kiện tại T ND hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Đ y cũng chính là một trong những đặc điểm dùng để phân biệt giữa quyền tác giả và các quyền sở hữu trí tuệ khác. Như đối với quyền sở hữu công nghiệp, việc bảo hộ quyền được xác lập dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc xét và cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu đối tượng đó, trừ các đối tượng sở hữu công nghiệp được xác lập một cách tự động. h tư uyề tá giả ư ả h t á h tư g i Đối với các tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm sao chụp thì cá nh n, tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nếu việc sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh, không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng, khái thác bình thường của tác phẩm, không x m hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
Ở một số trường hợp, cá nhân, tổ chức được sử dụng tác phẩm đã công bố mà không cần phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút thù lao. Ch ng hạn như việc tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân hay trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để 10 bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình. Một số trường hợp khác khi sử dụng không phải xin phép những phải trả tiền nhuận bút, thù lao như việc tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào. Như vậy, quyền tác giả không được pháp luật bảo hộ một cách tuyệt đối.
Nội dung quyền tác giả Nội dung quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Trong đó: Quyền nhân thân là những quyền gắn với tác giả - những người trực tiếp tạo ra tác phẩm bằng sự sáng tạo của mình. Quyền nhân thân không thể chuyển giao dưới bất kỳ hình thức nào và được bảo hộ vô thời hạn. Bên cạnh đó, quyền nhân thân còn mang tính chất phi tài sản.