CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Về điều kiện xuất hiện vấn đề: 1. Điều kiện xã hội Hiện nay, các trường đại học công lập và tư thục đều có mức học phí tăng dần qua các năm. Đặc biệt là các trường đại học thuộc khối ĐH Quốc gia TP.
Những trường đại học thuộc khối ĐH Quốc gia TP. HCM luôn luôn là mơ ước của nhiều bạn sinh viên vì chất lượng giảng dạy tốt và học phí khá rẻ. Tuy nhiên, thời gian gần đây, hầu hết các trường đại học của ĐH Quốc gia TP. HCM đã chuyển qua tự chủ kinh tế (6/7 thành viên thực hiện tự chủ, trừ trường ĐH An Giang), khiến cho học phí tăng vọt.
Cộng với đó, mức sống ở TP. HCM cao hơn nhiều so với tỉnh thành khác. Theo trang phân tích dữ liệu về chỉ số chi phí sinh hoạt, chất lượng cuộc sống Numbeo (2022), TP. HCM đang là thành phố có chi phí sinh hoạt đắt đỏ nhất Việt Nam và xếp ở vị trí thứ 9/20 thành phố có chi 14 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 phí sinh hoạt cao nhất khu vực Đông Nam Á.
Điều này vô hình trung tạo áp lực lên tất cả sinh viên đang học tập và sinh sống tại TP. HCM, không chỉ đối với sinh viên ngoại tỉnh mà ngay cả sinh viên có hộ khẩu thường trú tại TP. HCM cũng không tránh khỏi áp lực đó. Học phí và sinh hoạt phí đều tăng dần theo thời gian khiến các bạn sinh viên xuất hiện nỗi lo về tiền bạc.
Cũng vì vậy, ngày càng có nhiều sinh viên quan tâm đến chuyện đi làm thêm, thậm chí ưu tiên đi làm hơn cả đi học. Điều kiện bên trong Bên cạnh những điều kiện từ ngoài xã hội, còn có điều kiện xuất phát từ chính bản thân mỗi sinh viên. Khi bước đến ngưỡng cửa đại học đồng nghĩa đã bước một chân đến giai đoạn của sự trưởng thành và độc lập cuộc sống. Nhiều bạn sinh viên có hoàn cảnh gia đình khá khó khăn, để duy trì việc học với mức học phí và sinh hoạt phí luôn tăng lên mỗi năm, các bạn buộc phải tìm thêm việc làm ngoài giờ để trang trải phụ giúp gia đình.
Hoặc đối với những bạn sinh viên có hoàn cảnh gia đình khá giả, các bạn cũng sẽ có nhu cầu tự lập, muốn kiếm nguồn thu nhập riêng, muốn được tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm giao tiếp xã hội, những thôi thúc đó cũng sẽ khiến các bạn lựa chọn đi làm thêm. Có rất nhiều điều kiện khiến cho hiện tượng sinh viên đi làm thêm ngày một phổ biến. Các điều kiện ấy có thể xuất phát từ xã hội, từ gia đình hoặc từ bản thân các bạn sinh viên. Dù lý do xuất phát từ đâu thì việc các sinh viên có ý thức tự lập, không phụ thuộc vào gia đình cũng là một điều đáng khen ngợi.
Việc đi làm thêm là điều hữu ích, giúp cho các bạn trưởng thành hơn, có nhiều trải nghiệm hơn, đặc biệt tự tin hơn sau khi ra trường. Tuy nhiên, vì những lợi ích đó, nhiều sinh viên đã bắt đầu xem trọng việc đi làm thêm, bỏ bê cả sách vở và lơ là chuyện trường lớp. Điều đó đặt ra câu hỏi, liệu sinh viên có ý thức được tầm quan trọng của việc phải cân bằng giữa học tập và làm thêm không? 15 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail. Định nghĩa ý thức Theo C.Ăngghen (2002): “Ý thức (consciousness) là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào đầu óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức là toàn bộ sản phẩm những hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hy vọng, ý chí niềm tin,. của con người trong cuộc sống. Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người”. Nghĩa rộng: Ý thức là tinh thần, tư tưởng của con người như ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức đoàn, ý thức lớp… Nghĩa hẹp: Theo C.Ăngghen (2002): “Ý thức là một khái niệm được dùng để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lý con người.
Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức mà con người đã tiếp thu được (là tri thức về tri thức, phản ánh của phản ánh)”. Nội dung cơ bản về ý thức 2. Nội dung cơ bản 16 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 Theo C.Ăngghen (2002): “Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Những nội dung mà ý thức đều xuất phát từ thực tế, những yếu tố xuất hiện trong thực tế sẽ là cơ sở để ý thức được hình thành.
Sự phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tế cần sử dụng mà bắt buộc phải tạo ra những giá trị, phát minh thiết kế hiện đại và hữu ích hơn để đáp ứng cho nhu cầu thực tế của xã hội. Phản ánh ý thức là sự sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất ý thức có tính xã hội”. Cấu tạo của ý thức - Chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí. Trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.
- Chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức, trong đó tự ý thức ở cấp độ sâu nhất.Ăngghen, 2002) Ý thức có 3 mặt thống nhất hữu cơ với nhau, điều khiển hành động có ý thức của con người: - Mặt nhận thức: sự nhận thức của nhận thức, hiểu biết của hiểu biết - Mặt thái độ: Thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánh giá của chủ thể đối với thế giới. - Ý thức điều chỉnh, điều khiển hoạt động của con người làm cho hoạt động có ý thức. Định nghĩa sinh viên Theo Nguyễn Lan Nguyên (2002): 17 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 “Sinh viên là một bộ phận đặc thù trong cộng đồng thanh niên của xã hội. Có thể hiểu ngắn gọn, sinh viên là những người đang theo học bậc đại học một cách chính thức tại các cơ sở giáo dục đại học, nghĩa là những cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”.
Các yếu tố hình thành, tác động lên ý thức sinh viên Từ những yếu tố như mong muốn bản thân về công việc tốt, tiền tài, địa vị, niềm vui, tự hào, kỳ vọng gia đình, kỳ vọng xã hội đã hình thành trong sinh viên ý thức học tập theo hướng tích cực. Nhưng cũng vì những nhu cầu thực tế như phí sinh hoạt, học phí, mua sắm,… hay sự ham trải nghiệm khiến sinh viên thường có xu hướng đi làm thêm để kiếm thêm thu nhập, thoả mãn các nhu cầu đó. Việc cân bằng giữa hai vấn đề đi học và đi làm thêm là thách thức lớn đối với mỗi thế hệ sinh viên bởi vì rất khó để sinh viên có đủ thời gian, sức khỏe, năng lực để vừa có thể học tập tốt, vừa kiếm tiền giỏi. Chính vì thế, dung hòa cả hai vấn đề này là điều vô cùng khó khăn.
Các yếu tố vật chất sẽ tác động, làm thay đổi và quyết định ý thức, những nhu cầu thực tế nêu trên chính là vật chất, luôn luôn tác động đến sinh viên, khiến sinh viên có xu hướng bị thu hút bởi công việc làm thêm. Nhưng hơn hết, sinh viên phải xác định rõ tri thức là quan trọng nhất trong kết cấu của ý thức nên mỗi chúng ta cần chú trọng phát triển tri thức của bản thân. Sinh viên vừa học tập vừa đi làm thêm sẽ có nhiều vấn đề tất yếu xảy ra gây ảnh hưởng đến việc học của sinh viên, cụ thể như các yếu tố về thời gian, khối lượng công việc, môi trường công việc, các tác động của công việc đến sức khỏe, đời sống, tình cảm của sinh viên. Ảnh hưởng của việc đi làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên là vấn đề nghiêm trọng bởi điều đó gây nên nhiều trở 18 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 ngại cho việc đánh giá xếp loại sau này.
Tuỳ vào sự nhận thức và hiểu biết, mỗi cá nhân sẽ có những thái độ khác nhau đối với vấn đề đang xảy ra và mức độ ý thức của sinh viên trong việc cân bằng giữa việc học và làm thêm là đề tài đang được nghiên cứu. CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng vấn đề làm thêm của sinh viên khối ĐHQG TP.HCM Để hiểu rõ hơn về thực trạng làm thêm của sinh viên khối ĐHQG TP.HCM, nhóm nghiên cứu đã tiến hành triển khai khảo sát bằng Google Form trong vòng 3 ngày với tổng số sinh viên tham gia là 103 người.4% sinh viên năm 1 tham gia khảo sát (tương đương 22 người); 64.1% sinh viên năm 2 tham gia khảo sát (tương đương 66 người); 11.7% sinh viên năm 3 tham gia khảo sát (tương đương 12 người); và 2.9% sinh viên năm 4 tham gia khảo sát (tương đương 3 người). Trong tổng số người tham gia, có 69.8% (tương đương 77 người) sinh viên hộ khẩu tại TP.2% (tương đương 26 người) sinh viên hộ khẩu ngoại tỉnh.
Tất cả đều là sinh viên thuộc các trường đại học trong khối ĐH Quốc gia TP. Theo kết quả đã khảo sát được, có khoảng 53.4% (tương đương 55 người) sinh viên hiện tại đang không đi làm thêm và 46.6% (tương đương 48 người) sinh viên hiện đang đi làm thêm. Trong số 55 sinh viên không đi làm thêm, có khoảng 93.75% sinh viên (tương đương 51 người) cho rằng có ý định đi làm thêm trong tương lai gần. Như vậy có thể thấy rằng, việc đi làm thêm là mối quan tâm hàng đầu của các bạn sinh viên thuộc khối ĐH Quốc gia TP.
Số 19 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 lượng các bạn tham gia thống kê hiện đang đi làm thêm chiếm một nửa, và số còn lại đa phần đều có ý định sẽ đi làm thêm trong thời gian tới. Với 48 sinh viên đang đi làm thêm, nhóm đã thực hiện một vài khảo sát kĩ hơn. Đầu tiên, về lý do vì sao các bạn muốn đi làm thêm, nhóm đã thu được kết quả như sau: Bảng 1. Xếp hạng các lý do vì sao sinh viên chọn đi làm thêm (n=48) STT Lý do Tỷ lệ (%) Số lượng (người) 1 Muốn kiếm tiền 89.58 43 2 Muốn được trải nghiệm 88.