CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY NÔNG VIỆT NAM 1. Chức năng của công trình thủy lợi [19] Nước ta có lượng mưa dồi dào và có mạng lưới sông phong phú. Tổng lượng nước hàng năm của các song ngòi chảy qua nước ta khoảng 845km3 và 350 triệu m3 phù sa truyền tải trên 2360 con sông, tổng lưu lượng bình quân hàn năm trên các con sông là 27. Nguồn nước phong phú đó đủ thỏa mãn cho nhu cầu kinh tế quốc dân với điều kiện phải có kế hoạch quản lý, phân phối, điều hòa, sử dụng hợp lý.
Tuy vậy do phân phối không đều theo thời gian, phần lớn tập trung vào mùa lũ, đồng thời phân bố không đều trên toàn bộ lãnh thổ. Vì vậy cần phải xây dựng các công trình thủy lợi để phân phối lại nguồn nước theo không gian và điều chỉnh dòng chảy theo thời gian một cách hợp lý. Nguồn nước được sử dụng vào các mục đich giao thông vận tải, tăng nguồn điện, cung cấp nước cho dân cư và công nghiệp, tưới ruộng, thau chua rửa mặn, nuôi trồng thủy sản… Căn cứ vào mục đích trên, cần phải xây dựng các công trình thủy lợi bao gồm các lĩnh vực sau: + Thủy năng: sử dụng nguồn nước sông, biển để phát điện + Thuỷ nông: Dùng biện pháp thuỷ lợi để tưới tiêu, thau chua rửa mặn chống xói mòn. + Cung cấp nước và thoát nước cho khu công nghiệp, thành phố, nông thôn, nhà máy, nông trường, trại chăn nuôi v.
+ Giao thông thuỷ : lợi dụng nước sông, hồ, biển để phát triển đường thuỷ. + Thuỷ sản : làm hồ nuôi cá và cấp nước nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra biện pháp thuỷ lợi có liên quan đến công trình phục vụ công cộng khác như công trình vệ sinh môi trường, công trình phục vụ thể thao và du lịch. + Khi khai thác nguồn nước, việc thực hiện nguyên tắc lợi dụng tổng hợp rất phức tạp vì các lĩnh vực thuỷ lợi yêu cầu dùng nước không giống nhau, có ngành cần nước thường xuyên như cấp nước, thuỷ điện, có ngành dùng nước theo từng 5 thời kỳ như tưới ruộng; có ngành tiêu phí nước như cấp nước, tưới ruộng, nhưng có ngành sau khi sử dụng, nước không mất đi như thuỷ điện, vận tải thuỷ, nuôi cá.
Do đó có khi cùng một lúc không thoả mãn được nhiều ngành thì phải dựa vào nguyên tắc ưu tiên cho ngành trọng điểm và có chú ý thích đáng đến các ngành khác. Mọi biện pháp thuỷ lợi để lợi dụng tổng hợp nguồn nước sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Nhiệm vụ công trình thủy lợi [19] Công trình được xây dựng để sử dụng nguồn nước gọi là công trình thuỷ lợi. Nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thuỷ lợi là làm thay đổi, cải biến trạng thái tự nhiên dòng chảy của sông, hồ, biển, nước ngầm để sử dụng nước một cách hợp lý có lợi nhất và bảo vệ môi trường xung quanh tránh khỏi những tác hại của dòng nước gây nên.
Công trình thuỷ lợi có thể làm hình thành dòng chảy nhân tạo để thoả mãn nhu cầu dùng nước, khi dòng chảy tự nhiên ở nơi đó không đủ hoặc không có. Căn cứ vào tính chất tác dụng lên dòng chảy, công trình thuỷ lợi có thể chia ra: công trình dâng nước, công trình điều chỉnh và công trình dẫn nước.1 Công trình dâng nước Phổ biến nhất của loại công trình dâng nước là các loại đập. Đập được xây dựng ngăn các sông suối và hình thành nên độ chênh mực nước trước và sau công trình gọi là độ chênh mực nước thượng hạ lưu. Ở trước đập, càng gần đến đập, lưu tốc trung bình của dòng chảy càng giảm v1 < v2 < v3 < v4 < v5, còn độ sâu của dòng chảy càng tăng h1 > h2 > h3 > h4 > h5.
Sự tăng mực nước ở trong sông làm tăng diện tích ướt của lòng sông và dẫn đến ngập đất ở thượng lưu (hình 1-1a). Sự thay đổi lưu tốc dòng chảy ở thượng lưu làm thay đổi khả năng vận chuyển bùn cát của lòng sông. Lưu tốc theo chiều dòng chảy giảm dần, các hạt bùn cát trong nước được lắng xuống đáy theo thứ tự từ những hạt lớn sau đó những hạt bé hơn và khi đến gần công trình lưu tốc hầu như bằng không nên các hạt cát rất bé cũng được lắng xuống, nước ở đó rất trong. 6 a) c) b) Hình 1-1 : Sơ đồ đập dâng nước Sự dâng mực nước còn làm thay đổi cả trạng thái nước ngầm dưới lòng sông và hai bên bờ.
Do có độ chênh cột nước thượng hạ lưu nên có hiện tượng thấm qua nền và vòng quanh công trình qua 2 bên bờ từ thượng lưu về hạ lưu. Nước ở thượng lưu chảy về hạ lưu không mang bùn cát, do đó để trở về trạng thái cũ của dòng nước, lòng sông và bờ ở hạ lưu lại bị bào mòn xói lở. Như vậy công trình dâng nước có ảnh hưởng đến tất cả các yếu tố của dòng chảy, lòng sông và cả nước ngầm. Nhưng nó có hiệu quả lớn, điều chỉnh lưu lượng ở thượng lưu về hạ lưu, về mùa lũ nước được giữ lại ở thượng lưu (đối với hồ chứa) và được tháo về hạ lưu vào thời kỳ cần thiết theo nhu cầu dùng nước.
Công trình dâng nước được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế nước. Công trình điều chỉnh dòng chảy Công trình điều chỉnh để khống chế xói lở dòng sông, có thể làm thay đổi trạng thái dòng chảy, làm thay đổi hướng của dòng chảy trong giới hạn lòng sông theo yêu cầu cần thiết và bảo vệ lòng sông tránh khỏi những tác hại nguy hiểm của dòng nước. Công trình điều chỉnh bao gồm đê, đập, tường, kè. Các đê đập đó không xây ngăn hết toàn bộ lòng sông, mà chỉ một phần theo hướng của mặt cắt ngang hoặc có khi theo hướng dọc lòng sông.
Công trình điều chỉnh không làm dâng nước, mà nó có tác dụng làm thay đổi hướng và lưu tốc dòng chảy, phân bố lại lưu tốc và ảnh hưởng đến hình dạng của lòng sông. Các công trình này nhằm phục vụ các ngành khác nhau, có thể để giữ độ 7 sâu, lưu tốc và hình dạng lòng sông cần thiết cho tàu bè qua lại, đảm bảo điều kiện bình thường để lấy nước từ sông, giữ ổn định bờ sông để đảm bảo an toàn cho dân cư và nhà máy, xí nghiệp ở hai bên bờ. Công trình dẫn nước Những công trình này bao gồm các loại như kênh mương, đường hầm, cầu máng, đường ống làm bằng các vật liệu khác nhau. Các công trình đó chuyển nước với các lưu lượng xác định vào các mục đích khác nhau : dẫn nước vào turbin của nhà máy thuỷ điện, đưa nước vào tưới ruộng và đồng cỏ, vào hệ thống cấp nước của thành phố, xí nghiệp, nhà máy., đồng thời nó có thể sử dụng làm đường giao thông cho tàu thuyền đi lại.
Thuộc loại công trình dẫn nước này phải kể đến cả công trình tháo lũ, đó là những công trình tháo nước thừa của hồ chứa từ thượng lưu về hạ lưu qua đập hoặc hai bên bờ của đập, các công trình phân lũ sang khu vực khác nhằm giảm lũ sông chính tránh ngập lụt hạ lưu. Tổng quan về hệ thống công trình thủy lợi ở Việt Nam [6] Hệ thống thuỷ lợi (HTTL) là một tập hợp nhiều công trình trong một không gian nhất định và phục vụ cho một số nhiệm vụ thuỷ lợi nhất định. Địa bàn phục vụ của một HTTL từ hàng chục hecta đến hàng ngàn hecta, có thể trải rộng trên nhiều tỉnh, như HTTL Bắc-Hưng-Hải ở đồng bằng Bắc Bộ, HTTL Dầu Tiếng ở Đông Nam Bộ, hệ thống Quản Lộ - Phụng Hiệp, Tứ giác Long Xuyên ở miền Tây Nam Bộ… Nhiệm vụ của HTTL cũng rất đa dạng: thuỷ nông (tưới, tiêu, cải tạo đất), thuỷ điện, giao thông thuỷ, cấp thoát nước, thuỷ sản… Các HTTL lớn thường là đa mục tiêu, đảm bảo lợi dụng tổng hợp nguồn nước, phòng chống thuỷ tai và bảo vệ môi trường. Ví dụ các HTTL Bắc-Hưng-Hải, Cầu Sơn, Bái Thượng, Đô Lương, Linh Cảm, Thạch Nham, Đồng Cam… đều có nhiệm vụ tưới, tiêu, cấp nước; các hệ thống thuỷ lợi Quản Lộ-Phụng Hiệp, Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười… có nhiệm vụ tưới, tiêu, cải tạo đất (thau chua, ngọt hóa đồng ruộng), kết hợp với giao thông thuỷ… 8 Theo số liệu thống kê, đến nay cả nước đã xây dựng 75 hệ thống thủy lợi lớn, 1.967 hồ chứa dung tích trên 0,2 triệu m3, hơn 5.000 cống tưới tiêu và trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa, mỗi trạm có công suất 24,8x106m3/h cùng hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ.000 km bờ bao, hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè và nhiều hồ chứa lớn tham gia chống lũ cho vùng hạ du.
Tổng năng lực của hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới nước trực tiếp 3,45 triệu ha, tạo nguồn nước cho 1,3 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha, cấp và tạo nguồn cấp nước 5-6 tỷ/năm cho sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, dịch vụ, 70-75% tổng số dân nông thôn đã được cấp nước sinh hoạt. Một số hệ thống thủy nông điển hình ở nước ta hiện nay: 1. Hệ thống thuỷ lợi Bắc - Hưng - Hải Hệ thống có nhiệm vụ cấp nước cho 124.000 ha đất canh tác, tiêu úng cho 185.000 ha thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương và một phần huyện Gia Lâm thuộc thành phố Hà Nội. Các công trình đầu mối chủ yếu gồm cống Xuân Quan là cống lấy nước từ sông Hồng để cấp nước cho hệ thống; các cống Cầu Xe, An Thổ tiêu nước ra hệ thống sông Thái Bình.
Hệ thống được xây dựng từ những năm 50 của thế kỷ 20, sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc và đã phát huy tác dụng to lớn trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc nước ta. Ngày nay, hệ thống vẫn đang phát huy tác dụng tốt và ngày càng được củng cố, hoàn thiện và mở rộng diện phục vụ. Cống Xuân Quan (HTTL Bắc-Hưng-Hải). Hệ thống thuỷ lợi sông Chu Hệ thống có nhiệm vụ tưới nước cho 50.000 ha vùng đồng bằng Nam sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hoá, cấp nước dân dụng và công nghiệp với lưu lượng 1,25 m³/s kết hợp với giao thông thuỷ.
Công trình đầu mối là đập Bái Thượng trên sông Chu. Hệ thống kênh gồm kênh chính có chiều dài 19,33 km và các kênh nhánh với tổng chiều dài hàng trăm ki lô mét. Hệ thống được xây dựng từ năm 1936 với diện tích tưới hạn chế.