Tổng quan nghiên cứu

Chợ truyền thống giữ vai trò huyết mạch trong mạng lưới lưu thông phân phối hàng hóa tại các đô thị Việt Nam. Tại thành phố Đà Nẵng, hệ thống thương mại truyền thống với 85 chợ đang phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của gần 1 triệu người dân và giải quyết việc làm cho hơn 40.000 lao động. Tuy nhiên, trước làn sóng đô thị hóa nhanh chóng với tỷ lệ dân số thành thị đạt 87% cùng sự bùng nổ của hơn 10 siêu thị hiện đại và 26.618 cửa hàng bán lẻ độc lập, công tác quản lý chợ đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Hạ tầng tại nhiều khu vực đã xuống cấp, diện tích đất chợ bình quân đầu người chỉ đạt 0,25 m2/người (tương đương 50% mức bình quân toàn quốc), tình trạng chợ tạm chiếm 23% gây ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị và trật tự an toàn giao thông.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng tổ chức vận hành tại Công ty Quản lý Hội chợ Triển lãm và Các Chợ Đà Nẵng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị mạng lưới chợ giai đoạn 2010 đến định hướng năm 2020. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 85 chợ phân bổ tại 8 quận huyện thuộc thành phố Đà Nẵng, trọng tâm là các chợ loại 1 và chợ đầu mối lớn. Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng 208.265 m2 diện tích đất chợ, củng cố nguồn thu ngân sách hàng tỷ đồng mỗi năm, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa kết hợp phát triển du lịch thương mại bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các nền tảng lý luận kinh tế và quản trị thương mại hiện đại. Thứ nhất, lý thuyết tổ chức thương mại đô thị và phân phối bán lẻ giúp làm rõ bản chất của chợ như một thiết chế thương nghiệp truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter được vận dụng để phân tích tương quan giữa hệ thống chợ truyền thống với chuỗi siêu thị, trung tâm thương mại và các cửa hàng tiện lợi.

Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi theo quy định tại Nghị định số 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ: Chợ truyền thống (nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa tiêu dùng), Chợ đầu mối (nơi tập trung nguồn hàng lớn để phân phối luồng hàng đến các kênh lưu thông), Điểm kinh doanh quy chuẩn (diện tích tối thiểu 3 m2/điểm) và Tiêu chuẩn phân hạng chợ (chợ loại 1 có trên 400 điểm kinh doanh do cấp tỉnh/thành phố quản lý, chợ loại 2 có trên 200 điểm do cấp quận/huyện quản lý, và chợ loại 3 có dưới 200 điểm phục vụ cấp phường/xã).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp giữa số liệu thứ cấp từ Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng, Sở Công Thương, các báo cáo tài chính của Công ty Quản lý Hội chợ Triển lãm và Các Chợ Đà Nẵng giai đoạn 2009-2013, cùng dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 450 phiếu khảo sát hợp lệ thu thập từ các hộ tiểu thương, cán bộ quản lý và người tiêu dùng tại 4 chợ trọng điểm (Chợ Cồn, Chợ Hàn, Chợ Đống Đa và Chợ Đầu mối Hòa Cường). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên hệ thống, đảm bảo tính đại diện cho các ngành hàng thực phẩm, bách hóa và hàng lưu niệm.

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chuỗi thời gian và phương pháp nội suy số liệu. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm làm rõ bức tranh biến động nguồn thu, chuyển dịch cơ cấu ngành hàng và đánh giá chính xác tác động của các quyết định quản lý sau khi hợp nhất doanh nghiệp theo Quyết định số 8036/QĐ-UBND năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu và phân bổ mạng lưới chợ có sự chênh lệch lớn giữa các phân khúc. Toàn thành phố có 85 chợ với tổng diện tích 208.265 m2, nhưng tỷ lệ chợ loại 1 chỉ chiếm 6% (7 chợ), chợ loại 2 chiếm 23% (20 chợ), trong khi chợ loại 3 chiếm tới 48% (39 chợ) và chợ tạm chiếm 23% (19 chợ). Diện tích bán hàng bình quân chỉ đạt 850 m2/chợ trên tổng mặt bằng bình quân 2.450 m2/chợ, cho thấy hiệu suất khai thác không gian trực tiếp chỉ đạt khoảng 34,7%.

Thứ hai, cơ cấu nguồn vốn đầu tư công tác phát triển chợ còn phụ thuộc nặng nề vào ngân sách nhà nước. Tổng vốn đầu tư xây dựng giai đoạn 2003-2013 đạt 163,54 tỷ đồng cho 44 chợ. Riêng giai đoạn 2005-2010, vốn ngân sách chiếm tới 73,21% (78,41 tỷ đồng), trong khi nguồn vốn xã hội hóa huy động từ tiểu thương và doanh nghiệp chỉ đạt 26,79% (28,69 tỷ đồng).

Thứ ba, áp lực cạnh tranh gay gắt từ các mô hình thương mại hiện đại. Với sự hiện diện của 26.618 cửa hàng bán lẻ cá thể chiếm từ 35% đến 40% thị phần cùng hơn 10 siêu thị lớn, lượng khách truyền thống có xu hướng sụt giảm tại các chợ dân sinh, tạo áp lực chuyển đổi văn minh thương mại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các hạn chế bắt nguồn từ việc mô hình tổ chức bộ máy trực tuyến - chức năng sau sáp nhập năm 2009 chưa thực sự tinh gọn, cơ chế phân cấp quản lý giữa Sở Công Thương và các quận huyện còn chồng chéo. Hệ thống hạ tầng phòng cháy chữa cháy, cấp thoát nước và kiểm định an toàn vệ sinh thực phẩm tại các chợ loại 2, loại 3 chưa được đầu tư thỏa đáng.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 85 chợ theo phân hạng (6% loại 1, 23% loại 2, 48% loại 3, 23% chợ tạm) và biểu đồ cột ghép so sánh tỷ trọng vốn đầu tư ngân sách so với nguồn vốn tư nhân (73,21% so với 26,79%). Cách trình bày này giúp các nhà quản lý thấy rõ sự mất cân đối tài chính và tính cấp bách của chính sách xã hội hóa. So với các đô thị lớn khác, chợ truyền thống Đà Nẵng sở hữu tiềm năng độc đáo khi kết hợp mua sắm thường nhật với kinh tế du lịch văn hóa tại Chợ Cồn và Chợ Hàn, mở ra hướng đi bền vững cho đô thị miền Trung.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, tái cấu trúc mô hình tổ chức và ứng dụng công nghệ thông tin trong vận hành: Ban Giám đốc Công ty Quản lý Hội chợ Triển lãm và Các Chợ Đà Nẵng cần triển khai phần mềm quản lý số hóa toàn diện cho 14.632 hộ kinh doanh trước năm 2018, thiết lập hệ thống thu phí tự động nhằm cắt giảm 20% chi phí quản lý hành chính và minh bạch hóa dòng tiền thu nộp ngân sách.

Hai là, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư thông qua cơ chế công tư: Sở Công Thương phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng cơ chế ưu đãi để nâng tỷ lệ huy động vốn xã hội hóa từ 26,79% lên mức tối thiểu 50% trong giai đoạn 2016-2020, áp dụng hợp đồng BOT trong xây dựng mới và nâng cấp 44 chợ bán kiên cố.

Ba là, chuẩn hóa hạ tầng kỹ thuật và nâng cao tiêu chuẩn an toàn: Ban quản lý các chợ trực thuộc khẩn trương nâng cấp hệ thống phòng cháy chữa cháy, quy hoạch lại các quầy sạp đảm bảo diện tích tối thiểu 3 m2/điểm kinh doanh, đồng thời hoàn thiện hệ thống xử lý rác thải tại toàn bộ 7 chợ loại 1 và chợ đầu mối trước năm 2017.

Bốn là, quy hoạch hệ thống chợ đầu mối chuyên ngành và kho vận hiện đại: Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng cần đẩy nhanh tiến độ đầu tư 3 chợ đầu mối (Hòa Phước, Liên Chiểu, mở rộng Hòa Cường) cùng hệ thống tổng kho hàng logistics quy mô 30 đến 50 ha, đáp ứng nhu cầu 378 ha đất thương mại bán buôn - bán lẻ đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm một: Các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Ủy ban nhân dân các cấp tại Đà Nẵng và khu vực miền Trung. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch hạ tầng thương mại giai đoạn 2015-2020, điều chỉnh quy hoạch quỹ đất 378 ha cho hệ thống phân phối.

Nhóm hai: Lãnh đạo Công ty Quản lý Hội chợ Triển lãm và Ban quản lý các chợ. Tài liệu mang lại bộ quy trình chuẩn hóa về phân công nhiệm vụ cho 5 phòng chuyên môn và các đơn vị trực thuộc, giúp giải quyết triệt để bài toán an ninh trật tự, quản lý nguồn thu từ 14.632 tiểu thương.

Nhóm ba: Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị với chuỗi dữ liệu thực chứng 2003-2013 và phương pháp phân tích đánh giá sau sáp nhập doanh nghiệp công ích theo Quyết định số 8036/QĐ-UBND.

Nhóm bốn: Các hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp đầu tư hạ tầng thương mại. Luận văn mở ra góc nhìn toàn diện về tiềm năng hợp tác đầu tư theo hình thức xã hội hóa vào mạng lưới 85 chợ, giải phóng sức lao động cho hơn 40.000 nhân lực phụ trợ.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao tỷ lệ chợ tạm và chợ tự phát tại thành phố Đà Nẵng vẫn chiếm tỷ lệ cao tới 23%? Trả lời: Chợ tạm chiếm 23% (19 chợ) do tốc độ gia tăng dân số cơ học đạt hơn 10.000 người mỗi năm và sự hình thành của nhiều khu đô thị mới chưa kịp đồng bộ hạ tầng thương mại. Tập quán mua bán thuận tiện tại lòng lề đường của người dân cũng thúc đẩy các điểm kinh doanh tự phát tiếp tục tồn tại.

Câu hỏi 2: Mô hình tổ chức của Công ty sau Quyết định số 8036/QĐ-UBND năm 2009 có đặc điểm gì nổi bật? Trả lời: Doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình trực tuyến - chức năng gồm Giám đốc, 5 Phó Giám đốc, 5 phòng chuyên môn nghiệp vụ và 5 đơn vị trực thuộc. Mô hình này giúp tập trung nguồn lực quản lý đồng thời Trung tâm Hội chợ triển lãm và 4 chợ trọng điểm gồm Chợ Cồn, Chợ Hàn, Chợ Đống Đa và Chợ Đầu mối Hòa Cường.

Câu hỏi 3: Chợ truyền thống cần làm gì để cạnh tranh với 26.618 cửa hàng bán lẻ và chuỗi siêu thị hiện đại? Trả lời: Chợ cần nâng cao chất lượng văn minh thương mại, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chuẩn hóa diện tích quầy sạp tối thiểu 3 m2/điểm. Đồng thời, các chợ lớn như Chợ Hàn, Chợ Cồn cần phát huy lợi thế văn hóa truyền thống để phát triển thành điểm du lịch mua sắm độc đáo.

Câu hỏi 4: Tiêu chí nào được áp dụng để phân loại chợ theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP? Trả lời: Nghị định số 02/2003/NĐ-CP phân loại chợ dựa trên cấp quản lý và quy mô điểm kinh doanh: Chợ loại 1 do cấp tỉnh/thành phố quản lý có trên 400 điểm kinh doanh; Chợ loại 2 do cấp quận/huyện quản lý có trên 200 điểm; Chợ loại 3 do cấp phường/xã quản lý có dưới 200 điểm kinh doanh.

Câu hỏi 5: Thành phố Đà Nẵng quy hoạch hạ tầng chợ đầu mối và tổng kho hàng đến năm 2020 như thế nào? Trả lời: Đà Nẵng định hướng xây dựng 3 chợ đầu mối gồm chợ gia súc gia cầm Hòa Phước, chợ vật liệu xây dựng Liên Chiểu, mở rộng chợ nông sản Hòa Cường. Thành phố cũng quy hoạch 1 tổng kho hàng quy mô 30 đến 50 ha để đáp ứng nhu cầu 378 ha đất bán buôn - bán lẻ.

Kết luận

Luận văn đã đúc kết các kết quả nghiên cứu then chốt sau:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng 85 chợ với 14.632 hộ kinh doanh, tạo sinh kế cho hơn 40.000 lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  • Chỉ rõ sự bất cập trong nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2005-2010 khi ngân sách nhà nước chiếm 73,21%, trong khi xã hội hóa chỉ đạt 26,79%.
  • Phân tích sâu sắc mô hình quản lý 5 phòng ban và 5 đơn vị trực thuộc của Công ty Quản lý Hội chợ Triển lãm và Các Chợ Đà Nẵng sau sáp nhập năm 2009.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp gắn liền với chuyển đổi số, huy động vốn đầu tư công tư và nâng cấp tiêu chuẩn phòng cháy chữa cháy, an toàn thực phẩm.
  • Xác lập lộ trình quy hoạch không gian thương mại 378 ha, xây dựng 3 chợ đầu mối chuyên ngành và tổng kho logistics 30 đến 50 ha đến năm 2020.

Công trình đã đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị mạng lưới thương mại đô thị. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến 2020, các cấp quản lý cần khẩn trương thực hiện lộ trình số hóa và hoàn thiện cơ chế xã hội hóa đầu tư. Hãy tham khảo và vận dụng ngay các đề xuất trong luận văn để nâng cao năng lực quản lý hệ thống chợ truyền thống theo hướng văn minh, hiện đại và bền vững.