Đặt vấn đề Một đất nước muốn phát triển về kinh tế thì cần phải xây dựng một cơ sở hạ tầng vững chắc. Ví dụ hạ tầng giao thông thuận tiện sẽ thúc đẩy giao thương buôn bán giữa các vùng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi sẽ tránh những thiệt hại về thiên tai và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp. Công trình xây dựng thủy lợi là một chuyên ngành trong công trình xây dựng, nhưng là một chuyên ngành có vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội của nước ta.
Từ xa xưa cha ông ta đều rất chú trọng công tác trị thủy để bảo vệ mùa màng, tài sản, tính mạng của nhân dân. Với sức người và các công cụ thô sơ không thể xây dựng được các công trình kiên cố mà chỉ xây dựng các công trình mang tính chất tạm thời, do đó lũ lụt, hạn hán gây mất mùa diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân. Với tính chất quan trọng của lĩnh vực thủy lợi, Nhà nước ta đã rất chú trọng đầu tư xây dựng những công trình mang lại những hiệu quả về kinh tế, xã hội rất to lớn, mang tầm cỡ khu vực.Với đặc thù nước ta là một đất nước phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp thì các công trình thủy lợi đóng góp vai trò rất lớn về công tác phòng chống lụt bão bảo vệ mùa màng tài sản của nhân dân và phát triển kinh tế nông nghiệp. Chính bởi lý do đó mà việc nghiên cứu và phân tích công tác thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản trong lĩnh vực thủy lợi nhằm đề ra giải pháp nâng cao chất lượng công trình xây dựng thủy lợi và kết quả đầu tư luôn là vấn đề đáng được quan tâm hiện nay ở nước ta.
Để nâng cao hiệu quả QLNN về chất lượng các công trình xây dựng nói chung và công trình xây dựng thủy lợi nói riêng, cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan QLNN đối với chủ thể tham gia hoạt động xây dựng theo từng lĩnh vực thiết kế, thi công và nghiệm thu. Phân giao quyền và trách nhiệm đầy đủ, cụ thể rõ ràng cho các cơ quan quản lý nhà nước về CLCT xây dựng từ cấp TW đến địa phương. Làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng. Do đặc thù công trình thủy lợi phải tuân thủ theo hệ 4 thống thủy lợi, theo quy hoạch chuyên ngành nên càng phải đòi hỏi sự kiểm tra gắt gao của cơ quan QLNN, đặc biệt là lĩnh vực thiết kế, để tránh việc đầu tư không mang lại hiệu quả do không vận hành được dẫn đến thất thoát ngân sách của nhà nước.
Tổng quan về chất lượng sản phẩm 1. Khái niệm về chất lượng sản phẩm Trên thế giới, khái niệm về chất lượng sản phẩm đã từ lâu luôn gây ra những tranh cãi phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các khái niệm về chất lượng nói chung và chất lượng sản phẩm nói riêng được nêu ra dưới các góc độ khác nhau của mỗi các tiếp cận, mỗi cách nhìn nhận riêng biệt. Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng, tính chất và nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó và nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác.
Chất lượng của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thể. Theo quan điểm này thì chất lượng đã mang trong nó một ý nghĩa hết sức trừu tượng, nó không phù hợp với thực tế đang đòi hỏi. Theo quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chất trừu tượng là chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là sự đạt một mức độ hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối. Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất.
Như vậy, theo nghĩa này thì chất lượng vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng của nó. Đây là một khái niệm còn mang nặng tính chất chủ quan, cục bộ và quan trọng hơn, khai niệm này về chất lượng vẫn chưa cho phép ta có thể định lượng được chất lượng. Vì vậy nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết mà không có khả năng áp dụng trong kinh doanh. Do xuất phát từ phía người sản xuất nên khái niệm về chất lượng theo quan điểm này còn có nhiều bất cập mang tính chất bản chất và khái niệm này luôn đặt ra cho các nhà sản xuất những câu hỏi không dễ gì giải đáp được.
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại và những khuyết tật trong khái niệm trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đưa ra một 5 khái niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn về chất lượng sản phẩm, khái niệm này một mặt phải đảm bảo được tính khách quan, mặt khác phải phản ánh được vấn đề hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà chất lượng của sản phẩm chất lượng cao sẽ mang lại cho doanh nghiệp, cho tổ chức. Cụ thể hơn, khái niệm về chất lượng sản phẩm này phải thực sự xuất phát từ hướng người tiêu dùng. Theo quan điểm này thì “chất lượng là sự phù hợp một cách tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng”. Có thể mô hình hoá các yếu tố của chất lượng tổng hợp như sau: Hình 1.1- Chất lượng toàn diện 1.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm - Nhóm nhân tố khách quan: + Thị trường; + Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật; + Cơ chế chính sách quản lý của nhà nước; + Điều kiện tự nhiên; + Văn minh và thói quen tiêu dùng. - Nhóm các nhân tố chủ quan: + Trình độ lao động của doanh nghiệp; 6 + Trình độ máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng; + Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp; + Chất lượng nguyên vật liệu; + Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp. Tổng quan về quản lý chất lượng sản phẩm 1. Khái niệm về quản lý chất lượng Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau.
Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. - Theo GOST 15467-70: Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng.
Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí. Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng. - Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chất lượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng. - Theo giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nôi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định những quản lý chất lượng có nghĩa là: nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thoả mãn nhu cầu của người 7 tiêu dùng.
- Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chất lượng: là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động. - Theo tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO 9000 cho rằng: quản lý chất lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng. Một số thuật ngữ trong quản lý chất lượng được hiểu như sau: “Chính sách chất lượng” là toàn bộ ý đồ và định hướng về chất lượng do lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp chính thức công bố. Đây là lời tuyên bố về việc người cung cấp định đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, nên tổ chức như thế nào và biện pháp để đạt được điều này.
“Hoạch định chất lượng” là các hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu và yêu cầu đối với chất lượng và để thực hiện các yếu tố của hệ thống CL. “Kiểm soát chất lượng” là các kỹ thuật và các hoạt động tác nghiệp được sử dụng để thực hiện các yêu cầu chất lượng. “Đảm bảo chất lượng” là mọi hoạt động có kế hoạch và có hệ thống chất lượng được khẳng định để đem lại lòng tin thoả mãn các yêu cầu đối với chất lượng. “Hệ thống chất lượng” là bao gồm cơ cấu tổ chức, thủ tục, quá trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện công tác quản lý chất lượng.2 Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng: - Chức năng hoạch định; - Chức năng tổ chức; - Chức năng kiểm tra kiểm soát; - Chức năng kích thích; 8 - Chức năng điều chỉnh điều hòa phối hợp; 1.
Các khái niệm về hoạt động xây dựng công trình thủy lợi. Hoạt động xây dựng công trình thủy lợi Bao gồm lập quy hoạch thủy lợi, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, thẩm tra, thẩm định dự án, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và các hoạt động khác có liên quan đến XD công trình thủy lợi .