ĐẶT VẤN ĐỀ Thời gian gần đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về số lƣợng và chất lƣợng. Sau khi chỉ ra một loạt nguyên nhân dẫn đến mất rừng nhƣ: Rừng còn vô chủ; lực lƣợng chức năng chƣa làm tròn trách nhiệm bảo vệ, phát triển và quản lý rừng; tiêu cực tham nhũng trong một bộ phận cán bộ bảo vệ rừng; tình trạng di dân tự do đến phá rừng, lấy đất tr ng cây công nghiệp, Trƣớc tình hình đó, Thủ tướng kết luận: “Chính phủ tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên. Không chuyển rừng tự nhiên còn lại sang mục đích khác. Không chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng cây công nghiệp và chuyển sang đẩy mạnh kinh doanh rừng trồng để bảo vệ môi trường, bảo vệ những cánh rừng quý còn sót lại”.
Để góp phần đẩy nhanh tỷ lệ che phủ đất trống đ i trọc, đáp ứng nhu cầu về gỗ đ ng thời tạo thêm nhiều việc làm cho ngƣời dân sống gần rừng nhất là đ ng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, thì việc tr ng rừng các loài cây mọc nhanh cho năng suất cao đang là yêu cầu cấp thiết. Hữu Sản là một xã miền núi nằm ở phía đông của huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang. Xã có điều kiện tự nhiên tƣơng đối phù hợp cho phát triển sản xuất lâm nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay tại xã việc khai thác và sử dụng đất còn chƣa đúng mục đích và chƣa hợp lý dẫn đến đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đất đai bị thoái hóa và diện tích canh tác bị thu hẹp.
Để góp phần cải thiện và nâng cao năng suất, chất lƣợng rừng tr ng nguyên liệu, tận dụng diện tích đất trống đ i núi trọc một cách hợp lý, có hiệu quả, nhằm chủ động cung cấp ngu n nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ nói chung và ngu n nguyên liệu cho ngành bột giấy nói riêng. Với những lý do trên, đƣợc sự nhất trí của bộ môn và ngƣời hƣớng dẫn, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp tại xã Hữu Sản, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2018 - 2025”. Kết quả của đề tài góp phần xây dựng cơ sở khoa học cũng nhƣ thực tiễn trong công tác phát triển lâm nghiệp ở địa phƣơng. 1 CHƢƠNG I LƢỢC SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Sự phát sinh của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế tƣ bản chủ nghĩa.
Nhằm phát huy tối đa hiệu quả sản xuất lâm nghiệp đã có rất nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên Thế giới, …. Đặc biệt là nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp. Những nghiên cứu này mặc dù đã đƣợc thực hiện trên nhiều khía cạnh, đối tƣợng khác nhau song đến thời điểm này thì tất cả các công trình nghiên cứu đều hƣớng tới mục đích chính là phát triển lâm nghiệp, quản lý sử dụng đất đai một cách hiệu quả, ổn định và bền vững. Chính vì vậy mà quy hoạch sản xuất lâm nghiệp đã đƣợc hình thành.
Trên thế giới Lịch sử phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển tƣ bản chủ nghĩa. Do công nghiệp phát triển, cơ sở hạ tầng đƣợc đầu tƣ nên việc khai thác và vận chuyển gỗ trở nên dễ dàng hơn, đòi hỏi nhu cầu về thị trƣờng cũng đƣợc tăng cao. Ngành sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phƣơng của phong kiến và bƣớc vào thời đại hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất đã không còn bó hẹp trong sản xuất gỗ đơn thuần mà cần có ngay lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi dụng tài nguyên rừng một cách bền vững đem lại lợi nhuận cao lâu dài.
Chính vì vậy mà hệ thống hoàn chỉnh về mặt lí luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã đƣợc hình thành. Quy hoạch lâm nghiệp đƣợc xác định nhƣ một chuyên ngành bắt đầu bằng việc quy hoạch vùng từ thế kỷ XVII theo Orchowy vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu Âu phát triển ở mức cao trên cơ sở quy hoạch sử dụng. Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế Tƣ bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nhu cầu về gỗ ngày càng tăng.
Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phƣơng của 2 chế độ phong kiến và bƣớc vào thời đại kinh tế hàng hóa Tƣ bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã đƣợc hình thành trong hoàn cảnh nhƣ vậy. Đầu thế kỷ XVIII, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ dừng lại ở giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lƣợng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lƣợng hoặc theo diện tích.
Phƣơng thức này phục vụ cho phƣơng thức kinh doanh rừng ch i, chu kỳ khai thác ngắn. Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ XIX phƣơng thức kinh doanh rừng ch i đƣợc thay thế bằng kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài. Và phƣơng thức kinh doanh “khoanh khu chặt luân chuyển”nhƣờng chỗ cho phƣơng thức “chia đều” của Harting. Ông đã chia chu kì khai thác thành nhiều thời kì lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lƣợng chặt hàng năm.
Đến năm 1816, xuất hiện phƣơng pháp “phân kỳ lợi dụng” của H.cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lƣợng chặt hàng năm. Phƣơng pháp “bình quân thu hoạch” và sau này là phƣơng pháp “cấp tuổi” chịu ảnh hƣởng của “lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng nhƣ về diện tích và trữ lƣợng, vị trí và đƣa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác. Hiện nay biện pháp kinh doanh rừng này đƣợc dùng phổ biến ở các nƣớc có tài nguyên rừng phong phú. Còn phƣơng pháp “lâm phần kinh tế” và hiện nay là “lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lƣợng và biện pháp kinh doanh, phƣơng thức điều chế rừng.
Cũng từ phƣơng pháp này còn phát triển thành “phương pháp kinh doanh lô” và “phương pháp kiểm tra” Quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng hình thành môn học đầu tiên ở nƣớc Đức, Áo và mãi đến thế kỷ XVIII mới trở thành môn học hoàn chỉnh và 3 độc lập. Thời kỳ đầu môn học quy hoạch lâm nghiệp xác định sản lƣợng rừng làm nhiệm vụ duy nhất nên gọi là môn học “tính thu hoạch rừng”. Sau nội dung quy hoạch lâm nghiệp chuyển sang bàn về việc lợi dụng bền vững nên môn học đƣợc đổi thành “Quy ước thu hoạch rừng”. Sau này nội dung môn học chuyển sang nghiên cứu về điều kiện sản xuất và tổ chức kinh doanh rừng, tổ chức rừng và chi phối về giá cả, lợi nhuận và môn học có tên là “quy hoạch kinh doanh rừng”.
Hiện nay tùy theo mục đích, nhiệm vụ của quy hoạch lâm nghiệp phải đảm nhiệm trong từng nƣớc, từng địa phƣơng và trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà môn học có tên gọi và nội dung khác nhau. Ở các nƣớc thuộc Liên Xô cũ có tên là “Quy hoạch rừng”. Các nƣớc phƣơng Tây nhƣ Anh, Mỹ, Canada,…gọi tên môn học là “Quản lý rừng”. Trong suốt hai thế kỷ XVIII và XIX ngành khoa học này dần từng bƣớc bổ xung các cơ sở lý luận, hoàn thiện các giải pháp tổ chức tối ƣu trong kinh doanh rừng.
Phát triển mạnh nhất của ngành khoa học này là ở châu Âu nhƣ ở Đức và Áo. Tên gọi của ngành khoa học này cũng luôn đƣợc thay đổi do quan niệm và nhận thức trong từng giai đoạn khác nhau về đặc điểm sinh học, về định hƣớng kinh doanh, mục tiêu kinh doanh khác nhau. Tại Châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 của thế kỷ XX, quy hoạch giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng đƣợc xây dựng vào đầu thế kỷ.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất” Tuy nhiên trƣớc những năm 70 của thế kỷ XX, quan niệm về Quy hoạch cũng chỉ quan tâm chủ yếu đến lợi nhuận và mục tiêu sản xuất gỗ là chính. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học tập trung vào các lĩnh vực sản xuất gỗ và việc tổ chức rừng trong quy hoạch và điều chế nhằm mục tiêu sản xuất liên tục gỗ.
Những thay đổi về môi trƣờng trên toàn cầu cũng nhƣ trong từng khu vực, quốc gia đã đòi hỏi ngành lâm nghiệp xem xét việc quy hoạch rừng và tổ 4 chức sản xuất kinh doanh, và thực tế cho thấy khoa học về tổ chức rừng này không chỉ đơn thuần là khoa học thuần túy về cấu trúc, sản lƣợng, sinh vật học rừng mà còn liên quan đến yếu tố xã hội, kinh tế, môi trƣờng. Ngoài ra, đối với các khu rừng thiên nhiên, đặc biệt là rừng nhiệt đới, chứa đựng trong đó sự đa dạng về hệ sinh thái, đây là tài sản quý báu của nhân loại nhƣng đang từng ngày bị tàn phá và kinh doanh kém hiệu quả, nhiều loại lâm sản ngoài gỗ quý chƣa đƣợc bảo t n và chú trọng kinh doanh. Do đó, quy hoạch ngày nay cần có những thay đổi cơ bản trong nhận thức cũng nhƣ giải pháp toàn diện để kinh doanh bền vững ngu n tài nguyên rừng. Bƣớc sang nhƣng năm 1970 nhiều Quốc gia đã cố gắng phát triển hệ thống đánh giá đất đai.
Ở Mỹ, việc đánh giá đất đai đƣợc thực hiện trong các chƣơng trình của Bộ Nông nghiệp Mỹ. Ở Châu Âu, đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận đầu tiên ra đời (FAO 1972). Sau đó đƣợc Briskiman và Smith soạn lại. Năm 1975 cuộc thảo luận đi đến thống nhất hình thành nội dung phƣơng pháp đầu tiên của FAO về đánh giá đất đai.
Nhƣng năm sau đó công tác đánh giá đất đai đƣợc tiến hành bởi các chuyên gia. Năm 1984, Bohlin đề xuất yêu cầu của hệ thống thông tin cho quy hoạch tr ng rừng. Lund và Soda đã đƣa hệ thống thông tin cần thiết cho quy hoạch xây dựng rừng.