CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 1. Những vấn đề cơ bản về cam kết về lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 1. Khái niệm cam kết về lao động Các cam kết về lao động, theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO), thường được quy định trong nhiều loại hình cam kết và thỏa thuận thương mại, đặc biệt là các cam kết thương mại đơn 6 phương và các hiệp định thương mại song phương và khu vực. Ở đây, cam kết thương mại đơn phương thường là các ưu đãi thương mại một chiều của một quốc gia, thông thường là quốc gia phát triển, dành cho một hay một nhóm các quốc gia đang phát triển.
Một trong các ví dụ điển hình của một cam kết thương mại đơn phương là hệ thống ưu đãi phổ cập. Hệ thống ưu đãi phổ cập của Hoa Kỳ năm 1984 là cam kết thương mại đơn phương đầu tiên đề cập các cam kết về lao động. Theo đó, một trong các điều kiện để các quốc gia liên quan được hưởng ưu đãi thương mại là khi các quốc gia đã thực hiện hoặc đang nỗ lực từng bước công nhận quyền của người lao động theo các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm: (i) quyền tự do lập hội; (ii) quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể; (iii) quyền tự do lao động, không là nạn nhân của lao động cưỡng bức; (iv) quyền được đảm bảo về độ tuổi làm việc tối thiểu; (v) quyền được đảm bảo về điều kiện làm việc có thể chấp nhận bao gồm chế độ tiền lương tối thiểu, thời gian làm việc, an toàn và vệ sinh lao động; 7 và thực thi các cam kết để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Các tổ chức của người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức xã hội dân sự có liên quan có thể đệ trình cáo buộc về các hành vi vi phạm các quy định trên.
Tương tự như vậy, năm 1995, Ủy ban châu Âu đã giới thiệu các cam kết về lao động trong hệ thống ưu đãi phổ cập của Liên minh châu Âu (European Union - 6 ILO (2016), Studies on Growth with Equity: Assessment of labour provisions in trade and investment arrangements, Printing and Distribution Branch (PRODOC) of the ILO, tr. 7UNCTAD (2016), Generalized System of Preferences: Handbook on the Scheme of the United States of America, United Nations, tr. Đáng chú ý, hệ thống ưu đãi phổ cập của EU sử dụng phương pháp “cà rốt và cây gậy”, bao gồm các biện pháp trừng phạt trong trường hợp có hành vi vi phạm nghiêm trọng, mang tính hệ thống các cam kết về lao động và các ưu đãi bổ sung trong trường hợp các quốc gia liên quan thực thi đầy đủ các quyền và lợi ích của 8 người lao động được quy định. Chúng tôi thấy rằng, các quyền và lợi ích này được mở rộng theo thời gian qua các thế hệ của hệ thống ưu đãi phổ cập của EU.
Ở hệ thống ưu đãi phổ cập thế hệ đầu tiên năm 1995, các ưu đãi thương mại sẽ bị rút bỏ trong trường hợp các cam kết về lao động có liên quan đến xóa bỏ lao động cưỡng bức bị vi phạm nghiêm trọng và mang tính hệ thống. Tiếp đến, hệ thống ưu đãi phổ cập thế hệ thứ hai năm 1999 đã mở rộng nội dung các cam kết về lao động. Cụ thể, trong trường hợp các cam kết về lao động có liên quan đến xóa bỏ lao động cưỡng bức bị vi phạm nghiêm trọng và mang tính hệ thống, các ưu đãi thương mại sẽ bị rút bỏ. Đồng thời, các quốc gia liên quan sẽ được hưởng các ưu đãi bổ sung nếu thực thi đầy đủ các cam kết về lao động có liên quan đến tự do liên kết và công nhận thực chất quyền thương lượng tập thể, xóa bỏ lao động trẻ em và xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.
Như vậy, các cam kết về lao động lúc này đã đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia liên quan trong việc thực thi đầy đủ bốn tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản. Cuối cùng, tại hệ thống ưu đãi phổ cập thế hệ thứ ba, việc vi phạm nghiêm trọng và mang tính hệ thống các cam kết về lao động có liên quan tới bốn tiêu chuẩn lao động quốc tế sẽ dẫn tới việc các ưu đãi thương mại bị rút bỏ. Đồng thời, các ưu đãi bổ sung sẽ được dành cho các quốc gia liên quan khi họ tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế này. Các hiệp định thương mại song phương và khu vực là kết quả của quá trình chuyển hướng trong chính sách tự do hóa thương mại của các quốc gia trên thế giới.
Kể từ sau khi kết thúc vòng đàm phán U-ru-goay, những bước tiến trong lĩnh vực thương mại đa phương đã dần nhường chỗ cho sự phát triển của thương mại song 9 phương và khu vực. Xu hướng “phân mảnh” hệ thống thương mại toàn cầu nổi lên một phần như là phản ứng tất yếu với những bế tắc trong đàm phán thương mại đa 8 ILO, International Institute for Labour Studies (2009), World of Work Report 2009: The Global Jobs Crisis and Beyond, ILO Publications, International Labour Office, tr. 11 10 phương, đặc biệt là tại vòng đàm phán Đô-ha. Từ đó, các quốc gia có xu hướng chuyển sang ký kết các hiệp định thương mại tự do (free trade agreement – FTA).
Theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới, tính đến đầu năm 2020, đã có 262 FTA được ký kết trong tổng số 484 hiệp định thương mại khu vực được ký kết. Ngày nay, các FTA không còn được hiểu trong phạm vi hẹp của những thỏa thuận hội nhập khu vực hay song phương có cấp độ liên kết kinh tế đơn giản như trước, mà được dùng để chỉ các thỏa thuận hội nhập kinh tế sâu giữa hai hay nhiều quốc 11 gia với nhau. Chính vì vậy, các FTA ngày nay còn được gọi là các FTA thế hệ mới. Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ những FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại truyền thống.
Phạm vi cam kết của các FTA thế hệ mới, bên cạnh những lĩnh vực truyền thống như các biện pháp phi thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các hiệp định này còn đề cập các vấn đề phi truyền thống như lao động, môi trường. Cam kết về lao động đã và đang trở thành một trong những nội dung quan trọng của các FTA thế hệ mới. FTA đầu tiên có các quy định liên quan đến các cam 12 kết về lao động là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) , cụ thể là trong 13 Hiệp định Hợp tác lao động Bắc Mỹ (NAALC) – một trong hai hiệp định thuộc phạm vi của NAFTA. Theo đó, 11 nguyên tắc lao động đã được liệt kê nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, bao gồm: (i) quyền tự do hiệp hội (bao gồm quyền tự do thành lập công đoàn, quyền tự do liên kết để tạo thành các hiệp hội rộng lớn hơn của người lao động); (ii) quyền thương lượng tập thể; 10 Vòng đàm phán Đô-ha, hay còn gọi là Chương trình nghị sự Đô-ha về phát triển, được khởi động tại Hội nghị Bộ trưởng Tổ chức Thương mại thế giới lần thứ 4 được tổ chức tại Đô-ha, Ca-ta vào tháng 11 năm 2001.
Mục tiêu ban đầu các bộ trưởng đề ra là kết thúc vòng đàm phán Đô-ha vào năm 2005 với hi vọng sẽ làm giảm đáng kể các rào cản thương mại, góp phần vào sự phát triển của các quốc gia nghèo và giải quyết các vấn đề khó khăn còn tồn tại, như trợ cấp nông nghiệp, chưa được giải quyết trong các hiệp định trước đó như GATT. “Global Trade After the Failure of the Doha Round”, https://www.com/2016/01/01/opinion/global- trade-after-the-failure-of-the-doha-round. 11 Bùi Trường Giang (2010), Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 12 Tên tiếng Anh: North American Free Trade Agreement, viết tắt là NAFTA.
NAFTA được ký kết năm 1994 giữa Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô. 13 Tên tiếng Anh: North American Agreement on Labor Cooperation, viết tắt là NAALC. 12 (iii) quyền đình công; (iv) nghiêm cấm cưỡng bức người lao động làm việc; (v) nghiêm cấm sử dụng lao động là trẻ em; (vi) xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp giữa lao động nam và lao động nữ; (vii) trả lương bình đẳng dựa trên giá trị công việc cho lao động nam và lao động nữ; (viii) đảm bảo các tiêu chuẩn việc làm tối thiểu; (ix) phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; (x) thực hiện đền bù phù hợp khi xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; 14 (xi) bảo vệ người lao động di cư làm việc ở nước ngoài. Các nguyên tắc lao động trên được các thành viên của NAALC cam kết thúc đẩy trên cơ sở các quy định của hệ thống pháp luật quốc gia.
Cụ thể, pháp luật quốc gia không được thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu chung liên quan đến lĩnh vực lao động. Ngoài ra, các thành viên phải bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định, các thủ tục và thực tiễn áp dụng. Trong trường hợp pháp luật quốc gia không thực hiện đúng các cam kết về lao động có liên quan đến lao động trẻ em, an toàn và vệ sinh lao động, chế độ tiền lương tối 15 thiểu, mức tiền phạt được NAALC cho phép lên tới 20 triệu USD. Sau khi NAFTA ra đời, số lượng FTA chứa đựng các điều khoản về lao động tăng mạnh.
Từ ba hiệp định vào năm 1995, tính đến năm 2016, đã có 77 hiệp định chứa các quy 16 định có liên quan đến lao động. Trong đó, gần một nửa số hiệp định trên ra đời sau năm 2008, hơn 80% hiệp định có hiệu lực kể từ năm 2013 có quy định về lao 17 động. Các báo cáo thường niên của ILO đã thống nhất về cách hiểu đối với các điều khoản có chứa các cam kết về lao động trong các FTA. Theo đó, các cam kết về lao động được hiểu là các quy định chứa: 14 Phụ lục 1, NAALC 15 ILO (2009), tlđd (8), tr.
16 ILO (2017), Studies on Growth with Equity: Handbook on assessment of labour provisions in trade and investment arrangements, Printing and Distribution Branch (PRODOC) of the ILO, tr.