CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT VÀ TIỂU THUYẾT CỦA HOÀNG QUỐC HẢI TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Cảm hứng nghệ thuật và cảm hứng lịch sử trong tác phẩm nghệ thuật 1. Khái niệm về cảm hứng nghệ thuật Sự xuất hiện của cảm hứng được lý giải theo nhiều cách khác nhau. Platon chỉ ra rằng, sáng tác giây phút thần linh nhập vào người, người nghệ sĩ chìm trong trạng thái bị ám ảnh.
Còn theo Freud, cảm hứng bắt nguồn từ bản năng tính dục. Với Belinski, “cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó”[41]. Trong khi đó mỹ học Phương Đông lại xem cảm hứng là sự dung hợp của cá nhân và vũ trụ,. Những kiến giải trên đều gặp nhau khi nhìn nhận cảm hứng sáng tạo được hình thành trong giới tinh thần chủ thể và thuộc về giây phút mà người nghệ sĩ không tự chủ được.
Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu chỉ cho rằng cảm hứng là sản phẩm của quá trình vô thức. Bởi lẽ suy cho cùng, mọi mạch nguồn cảm hứng của chủ thể thẩm mĩ phải là kết quả của của cả quá trình tích lũy, thậm chí đó là kết quả của quá trình m của người sáng tạo. Hay nói khác, cảm hứng vừa thuộc về sở trường của tác giả vừa cần đến những tác nhân bên ngoài. Theo đó, tư duy lí thuyết văn học hiện đại dẫn giải, sự ra đời của sản phẩm nghệ thuật đều được khơi nguồn từ cảm hứng.
Cảm hứng chính là “trạng thái tâm lý đặc biệt khi có cảm xúc và sự lôi cuốn mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả”; cảm hứng là “tình trạng phấn chấn về tinh thần giúp cho người ta thấy rõ, thấy nhanh nhiều vấn đề theo một hướng tập trung, phát hiện được nhiều điều mới, thực hiện được công việc một cách thích thú và có kết quả cao. Cảm hứng là chất men sáng tạo”[34, tr. Cảm hứng nghệ thuật là sự lắng đọng khác hẳn với cảm hứng thông thường. Cả hứng này thường gắn với tư tưởng và mang tính khung hướng một cách rõ rệt.
Cảm hứng nghệ thuật chính là yếu tố quan trọng tác nên nội dung của tác phẩm. Nó tạo nên một tính thống nhất với các yếu tố khác như: đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Cảm hứng sáng tạo đòi hỏi nhà văn không chỉ đơn giản là viết mà còn 11 phải đưa vào đó là những cảm hứng bất chợt hoặc những suy nghĩ mới được nảy sinh từ cung bậc cảm xúc tâm linh một cách kì lạ. Cảm hứng sáng tạo của nhà văn đơn giản và thực thế đó chính là chỉ trạng thái lao động nghiên cứu của con người.Như vậy trong hoạt động sáng tạo văn học, cảm hứng là một yếu tố quan thiết cho quá trình hình thành bào thai nghệ thuật; là cơ sở sinh thành sự sống cho văn bản văn chương.
Cảm hứng không chỉ đột khởi trong giây lát mà hình thành xuyên suốt tác phẩm. Nó trở thành mạch cảm hứng chủ đạo chi phối cho sự phát triển của mọi yếu tố nghệ thuật. Cảm hứng càng đạt đến hiệu ứng thẩm mỹ cao, tất yếu tạo ra sức “vẫy gọi” cho những giá trị tư nghệ thuật của tác phẩm. Do đó, cảm hứng nghệ thuật chính là hình thái cảm xúc mang tính đặc thù - biểu đạt cho trạng thái tâm lý căng thằng nhưng lại yêu thích sự khác biệt của chủ thể thẩm mĩ.
Đó chính là thời khắc tập trung của trí tuệ và sự dồi dào của cảm xúc khi đã thực sự hài hòa sẽ đẩy người nghệ sĩ đến với quá trình sáng tạo say mê nhất và đạt hiệu quả nhất. Lúc đó, những tư tưởng, hình tượng ồ ạt nảy sinh; kéo theo cách cảm, cách nghĩ sắc sảo của người nghệ sĩ. Quá trình sáng tạo chính là một nhu cầu tự thân mãnh liệt của nhà văn. Chỉ có nhu cầu tự biểu hiện, tác phẩm nghệ thuật sẽ chưa thành hình.
Chỉ khi bên cạnh nhu cầu tự bộc lộ còn có nhu cầu giao cảm, nhu cầu được sẻ chia thì lúc đó, người viết mới trở thành nghệ sĩ, mới tìm đến nghệ thuật như một phương tiện hữu hiệu để tìm niềm đồng cảm trong nhân gian. Tất cả những cảm xúc, tư tưởng được mã hóa thông qua biểu tượng nghệ thuật dựa trên sức tưởng tượng của người nghệ sĩ. Hiện thực khách quan trong tác phẩm nghệ thuật không chỉ tồn tại như nó vốn có mà đó chính là kết quả của lăng kính chủ quan, lăng kính nội cảm của người sáng tạo. Cảm hứng nghệ thuật sẽ thể hiện tinh tế hơn những cảm hứng thông thường.
Nó là yếu tố rất quan trọng trong nội dung tác phẩm, thống nhất các yếu tố ấy để tác nên một tác phẩm nghệ thuật độc đáo như đề tài, tư tưởng tác phẩm, chi phối và quyết định nên hình tượng nghệ thuật của tác phẩm ấy. Như vậy, cảm hứng nghệ thuật là yếu tố đầu tiên dẫn đến sự hình thànhcủa một tác phẩm. Nghĩa là cảm hứng chỉ là trạng thái kích thích, tạo đà cho những việc tiếp theo cần phải hoàn thành. Đối với các nhà thơ, đôi khi cảm hứng “ngân lên như một âm điệu nào đó” (Maiakovski) nhưng với một nhà văn viết tiểu thuyết, cảm hứng lại hình thành từ cả một quá trình và đòi hỏi nhà văn phải liên tục duy trì, tạo ra cảm hứng mới.
Để đạt được cảm hứng, nhà văn phải tập trung, tha thiết với vấn đề đang ám ảnh mình, cần giải mã, cần phải viết ra. Các nhà văn như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Tuân, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Tưởng đều là những nhà văn 12 tiểu biểu và đạt được được những thành công nhất định thể hiện được tư tưởng, quan niệm nghệ thuật, tuy nhiên không thể không kể đến yếu tố quan trọng đó là sự cảm hứng. Dù ở thời điểm nào tác phẩm cũng không thể không có cảm hứng. Nhà văn Nguyễn Du khi xót thương cho số phận và tài năng của Tiểu Thanh nên tác giả đã tạo nên tác phẩm “Độc Tiểu Thanh kí”.
Hay từ âm hưởng của tiếng đàn của Lor – ca đã chạm tới trái tịm của nhà thơ Thanh Thảo để nhà thơ tạo nên nguồn cảm hứng sáng tác ra tác phẩm “Đàn ghi ta của Lor-ca”… Có thể từ cốt truyện, nhân vật, nói đúng hơn là hoàn cảnh ra đời của mỗi tác phẩm, mỗi một tác giả sẽ đưa những sáng tạo nghệ thuật riêng. Bằng lòng yêu người, thấu hiểu và thông cảm đan xen là sự nối tiếc, xót xa về số phận con người mà các tác giả đã tạo nên những tác phẩm văn học riêng có. Tựu trung, cảm hứng nghệ thuật thật sự là một nội dung căn cốt, xuyên suốt và là xương sống để tác phẩm văn học ra đời, “vi hành” và được các nhà nghiên cứu, người đọc “đồng sáng tạo”. Đọc tác phẩm văn học, trong đó, mỗi loại hình là một cách tiếp cận riêng biệt nhưng hơn hết, dù loại hình văn học nào thì cảm xúc mà tác phẩm mang lại vẫn là giá trị cốt lõi nhất.
Cảm xúc đó chính là ngọn nguồn cảm hứng để tác giả sáng tạo trước cuộc sống là muôn hình vạn trạng, mỗi tác giả là một quá trình đi tìm cảm hứng riêng cho mình để làm nên những đứa con tinh thần mang tên tác phẩm. Cảm hứng lịch sử trong tác phẩm nghệ thuật Từ sự phát triển và hình thành đời sống văn học bên cạnh yếu tố thời đại thì cảm hứng sáng tạo luôn là tiền đề cho mọi ngọn nguồn sáng tạo. Ở đấy, mọi ý đồ sáng tác được khơi nguồn từ những rung động trước hiện thực khách quan. Do đó, bất kì một tác phẩm nào cũng khởi nguồn từ một niềm rung cảm sâu xa, từ những ẩn ức trong tiềm thức.
Song từ ý đồ đến tác phẩm là cả quá trình lao động nghệ thuật, đòi hỏi sự gia công đạt đến độ tế vi. Cho dù, những câu chuyện của quá khứ lịch sử rất xa, nhưng để trở thành cuộc sống thứ hai trong tác phẩm cần phải có một chất xúc tác là cảm hứng để ý đồ được bùng lên và thoát ra thành văn bản ngôn từ. Với các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử ra đời sớm ở cả văn học Phương Đông và phương Tây.Ở mỗi một nền văn học lại tồn tại những quan niệm khác nhau về quan hệ giữa hiện thực lịch sử và sự hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử. Là một loại hình có đặc điểm của tiểu thuyết, tiểu thuyết lịch sử lấy nội dung lịch sử để làm đề tài và cảm hứng sáng tạo.
Từ đó tạo nên các sự kiện trong quá khứ để hư cấu, tưởng tượng để tạo nên sự hứng thú mới lạ từ những điều quen thuộc xung quanh chúng ta. Sự khác biệt giữa lịch sử và tiểu thuyết lịch sử chính là những nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết xuất hiện tư thế duy nhất mà lịch sử đã đóng khung vào nó mà nó còn là 13 sự hiện diện trong những hành động, suy nghĩ của cuộc sống ở cả mặt xã hội và khía cạnh đời từ. Nhà văn Chế Lan Viên đã nói về tiểu thuyết lịch sử thường phải trải qua hai vòng lửa: vòng lửa lịch sử và vòng lửa tiểu thuyết, hư cấu lịch sử phải đạt tới độ làm cho nó thật hơn cả sự thật đã diễn ra trong chính sử. Tính chân thực của tiểu thuyết lịch sử chính là độ điển hình của nhân vật và hoàn cảnh, đạt được nhờ sự chi tiết hóa và khái quát hóa trong bút pháp của nhà văn.
Xét ở góc độ đề tài và tư tưởng chủ đề của tác phẩm, việc chọn đề tài lớn nhỏ không quan trọng bằng cách nhà văn khai thác đề tài ấy nông hay sâu và tư tưởng gởi gắm trong đó nhiều hay ít. Điều này phụ thuộc cảm quan của nhà văn trước hiện thực lịch sử được phản ánh và tầm tri thức của nhà văn về những yếu tố cấu thành nên sự kiện lịch sử ấy. Công việc của người viết tiểu thuyết nói chung và người viết tiểu thuyết lịch sử nói riêng là công việc đòi hỏi khả năng quan sát, tư duy tưởng tượng rất lớn. Ở đó, sự kiện, con người lịch sử là bộ khung sườn cho quá trình kích hoạt trường tưởng tượng của nghệ sĩ.
Bởi vậy, trên trục cảm hứng nghệ thuật, nhà văn viết về tiểu thuyết lịch sử thể hiện ở khả năng tái hiện lại cuộc sống thứ hai trong mặt cắt không gian, bối cảnh sao cho phù hợp với thời đại được phản ánh.