CHƯƠNG 1: THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA THƠ NGUYỄN BẢO CHÂN 1. Khái lược thơ nữ Việt Nam đương đại 1.1 Thơ nữ sau năm 1975 - sự vận động, phát triển và tiếp nối Sau 1975, diện mạo của thơ nữ Việt Nam có nhiều thay đổi. Đội ngũ các nhà thơ nữ xuất hiện đông đảo hơn, đa dạng, phong phú và có nhiều hiện tượng thơ mới lạ. Thơ nữ Việt Nam sau 1975 sự vận động, phát triển và tiếp nối giữa các thế hệ trên con đường khám phá, cách tân nội dung, nghệ thuật thơ ca.
Thơ nữ 1975 đến 1980 in đậm dấu ấn của những nhà thơ nữ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, đã có chỗ đứng trên thi đàn như Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn. Thơ nữ giai đọan này vẫn viết về chiến tranh nhưng khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn không còn chiếm ưu thế, thay vào đó là cảm hứng buồn thương thời thế, thân phận con người, đặc biệt là thân phận người phụ nữ. Ta có thể thấy đặc điểm này trong thơ Ý Nhi, những vần thơ day dứt và lay thức người đọc về nỗi cô đơn của con người. Ý Nhi là nhà thơ Việt Nam đầu tiên được nhận giải thưởng Cikada năm 2005.
Xuân Quỳnh lại đem đến thi đàn một giọng thơ đầy nữ tính. Trưởng thành trong chiến tranh, giữa khói lửa bom đạn, thơ Xuân Quỳnh giống như đóa hoa đời thường nở giữa chiến hào chống Mĩ với những khát khao hạnh phúc, tình yêu rất đỗi bình dị. Xuân Quỳnh được xem như người dự báo trước khuynh hướng của những nhà thơ nữ đổi mới với cảm hứng đời thường, cảm hứng tình yêu chân tình và mộc mạc. Thế hệ những nhà thơ trưởng thành từ kháng chiến chống Mĩ còn có thể kể đến Lâm Thị Mỹ Dạ.
Từ Khoảng trời hố bom (1972) đến Đề tặng một giấc mơ (1988), thơ chị thể hiện sự vận động từ khuynh hướng sử thi sang mạch thơ trữ tình đời tư. Từ cuối những năm 80, xuất hiện những cây bút có những cách tân, đổi mới mạnh mẽ như Dư Thị Hoàn, Vũ Thị Huyền, đặc biệt là hiện tượng thơ Dư Thị Hoàn với những cách tân mới mẻ về cả nội dung cảm hứng và hình thức nghệ thuật. Từ những bài thơ đầu tiên in trên báo Văn nghệ năm 1987: Viên mãn, 10 Bước chân chậm, Trong bệnh viện tâm thần đến sự ra đời của tập thơ Lối nhỏ (1988), Dư Thị Hoàn gây chú ý với một hình thức là lạ, những bài thơ ngắn gọn, câu thơ ngắn gọn, câu thơ hàm súc, tinh giản đến tối đa, khước từ vần điệu, những yếu tố tạo nhạc tính, ghi dấu ấn trong lòng độc giả bởi những lời nói đời thường có chất thơ. Vũ Thị Huyền lại ấn tượng bởi vẻ đẹp đậm chất đồng quê, mang âm hưởng phong vị đồng dao, gợi niềm hoài cảm sâu lắng - là những vẻ đẹp mang giá trị truyền thống mà không phải nhà thơ nào cũng lưu giữ được giữa dòng chảy hiện đại.
Bên cạnh đó, thơ Vũ Thị Huyền cũng có xuất hiện tiếng nói mới, tiếng nói ý thức nữ quyền, đòi hỏi được giải phóng, đòi quyền nữ, đó không phải quyền bình đẳng với nam giới mà là quyền thể hiện tiếng nói của nữ giới. Từ cuối những năm 90 đến nay, xuất hiện đông đảo những nhà thơ nữ trẻ có nhiều thể nghiệm độc đáo như Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Nồng Nàn Phố. Họ ít có sự ràng buộc bởi truyền thống, có cơ hội tiếp xúc những luồng tư tưởng, xu hướng nghệ thuật mới của thế giới cho nên những tìm tòi, cách tân trong thơ được đẩy xa hơn, khác lạ hơn. Khác lạ ngay cả cách đặt tên tập thơ như: Khát, Linh, Đồng tử, ViLi in love, Phim đôi - tình tự chậm của Vi Thùy Linh, Nằm nghiêng, Rỗng ngực của Phan Huyền Thư, Gửi VB của Phan Thị Vàng Anh, Chữ cái của Từ Huy; Trái cấm, Cởi gió của Nguyễn Phan Quế Mai; Chấm của Nguyễn Ngọc Tư, Đã là một phiền toái của Ng.anhanh, Anh ngủ thêm đi anh em phải dậy lấy chồng của Nồng Nàn Phố, Di chữ của Nguyễn Thị Thúy Hạnh… Cách các nhà thơ đưa tác phẩm đến công chúng bạn đọc cũng rất cởi mở và hấp dẫn.
Họ thường xuyên trình diễn thơ ở trong nước và nước ngoài kết hợp với nhiều loại hình nghệ thuật, in thơ song ngữ, viết bài quảng bá thơ tới bạn đọc nước ngoài. Có thể thấy, thơ nữ Việt Nam từ 1975 đến nay có sự xuất hiện kế tiếp và song hành của các thế hệ, thể hiện sự phát triển liền liền mạch, sáng tạo, đổi mới. Nguyễn Bảo Chân có thể coi là hiện tượng thơ thể hiện rõ sự vận động tiếp nối và phát triển đó. Sinh ra khi đất nước vẫn còn trong khói lửa chiến tranh, tuổi hoa niên chứng kiến nỗi vất vả, nhọc nhằn của cha mẹ trong công cuộc mưu 11 sinh.
Những vần thơ đầu tiên của chị ra đời khi đã trưởng thành, chứng kiến những đổi thay của đất nước, tiếp thu những nguồn cảm hứng mới, tư tưởng mới, những cách tân của thơ ca đương đại. Thơ Nguyễn Bảo Chân là sự kết hợp hài hòa hai yếu tố: truyền thống và hiện đại, cách tân trên nền những vẻ đẹp của thơ ca truyền thống, hấp dẫn người đọc chủ yếu bởi vẻ đẹp nữ tính, hồn hậu, kiêu hãnh và ngôn ngữ thơ tinh tế, hàm súc, giàu sức gợi. Một số đặc điểm cơ bản của thơ nữ Việt Nam sau 1975 Thơ nữ Việt Nam sau 1975, cùng với xu hướng phát triển chung của thơ ca và văn học dân tộc có những cách tân, đổi mới trên phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Có sự cách tân trên nền tảng truyền thống và cả những đổi mới theo hướng hiện đại hóa, hội nhập với văn học thế giới.
Trên phương diện nội dung, ta có thể thấy những nhà thơ nữ trưởng thành từ kháng chiến chống Mĩ như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đoàn Thị Lam Luyến, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát… tiếp tục có những tìm tòi, khám phá nguồn cảm hứng hướng tới cuộc sống riêng tư, cá nhân, hạnh phúc đời thường nhưng không đẩy tới cái cực đoan mà vẫn hướng tới sự hòa nhập. Trước 1975, thơ Xuân Quỳnh tràn ngập niềm tin yêu, lạc quan tin tưởng, sẵn sàng hòa nhập, nguyện ước “tan ra” thành trăm con sóng nhỏ để vĩnh hằng trong “biển lớn tình yêu”. Sau 1975, ý thức về cái tôi, về thân phận, về mất mát xuất hiện nhưng ta vẫn thấy niềm khao khát hạnh phúc, tình yêu của người con gái: “Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may/ Áo em sơ ý cỏ găm đầy/ Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,/ Ai biết lòng anh có đổi thay?” (Hoa cỏ may). Thơ nữ sau 1975 vẫn tiếp tục đi vào những vấn đề thân phận của người phụ nữ ở đời sống hiện tại qua cảm nhận giàu tính nữ.
Nếu những giai đoạn trước, các nhà thơ nữ cũng đã nhận thức được bi kịch của mình nhưng họ không thể hiện được thành tiếng nói trực tiếp, phải ẩn mình thì đến giai đoạn sau 75, tiếng nói đó trở nên mạnh mẽ hơn dù ít nhiều cũng chưa thực sự thoát khỏi ý thức thân phận nhưng trong cách chấp nhận bi kịch chúng ta vẫn thấy sự tự chủ, tự tin của nữ giới để đi đến sự giải phóng khỏi những tường thành do chính mình dựng lên và tự kêu gọi bản thân mình. 12 Những nhà thơ nữ sau đổi mới như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Từ Huy, Khương Hà Bùi, Thanh Xuân, Ng.anhanh, Phương Vy, Ng.anhanh, Lữ Thị Mai, Như Quỳnh de prelle… lại có những cách tân táo bạo, mạnh mẽ nỗ lực tìm kiếm những nguồn cảm hứng mới. Họ khám phá chủ yếu là vấn đề về con người cá thể, tự chủ, những vấn đề về tiềm thức, vô thức. Không ngần ngại giấu diếm khát vọng phơi bày những vấn đề về bản năng, tình yêu tính dục - những đề tài một thời từng cấm kị trong văn học, các nhà thơ luôn có phong thái tự tin, kiêu hãnh, đề cao và khẳng định mình trong sáng tạo.
Xuất hiện trong thơ những cái tôi đa ngã, không nhất phiến mà có sự đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt mong muốn được giải phóng, tự do bộc lộ cá tính. Nó không chỉ đối thoại mà còn khiêu khích, nổi loạn. Trên phương diện hình thức nghệ thuật, thơ nữ sau 75 vẫn quan tâm và sử dụng nhuần nhị cả về mặt đề tài, hình ảnh, giọng điệu, ngôn ngữ, thể thức của thơ truyền thống nhưng gắn với nó bao giờ cũng là cách kết hợp mới, hoặc mang âm hưởng mới của thời đại. Vẫn là thể thơ lục bát truyền thống, những ẩn dụ, hoán dụ quen thuộc của ca dao, dân ca, nhưng thơ Nguyễn Bảo Chân có cách kết hợp từ mới lạ, cách ngắt dòng, ngắt nhịp sáng tạo: Gió nhen hương lửa cay nồng Dụi ngân ngấn khói Chờ Không thấy người Tôi tìm Tro bụi bời bời (Về Mai Châu) Các nhóm sáng tác theo phương thức nghệ thuật mới như Tân hình thức, Thị giác, Trình diễn, Sắp đặt… quyết tâm cách tân thơ một cách triệt để, táo bạo và luôn có xu thế khẳng định con đường riêng, mới lạ của mình bằng những thể nghiệm mới lạ, độc đáo, thậm chí nổi loạn, gây hấn.
Những cách tân này đã tạo ra những hình thức độc đáo, mới lạ cho thi ca (hình thức thơ chữ cái của Từ Huy) tạo ra thi ảnh mới mẻ, táo bạo, thậm chí gây sốc (trình hiện cơ thể nữ trong 13 thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư…), xuất hiện trong thơ những ngôn từ miêu tả trực giác, trực cảm, tiềm thức, vô thức, và cả những từ ngữ mang nghĩa hoàn toàn khác biệt với nghĩa thông dụng. Những cách tân này khi mới xuất hiện trên thi đàn đều gây sốc và tạo những tranh cãi gay gắt. Có những đổi mới sau một thời gian đã được độc giả đón nhận, tạo thành xu hướng sáng tác. Nhưng cũng có những tác giả quá chú trọng vào tính cá thể, quá táo bạo trong hình thức thể hiện, cách tân không phù hợp với văn hóa dân tộc dẫn đến cách tân trở nên dị biệt, khó được độc giả đón nhận (trường hợp nhóm Ngựa trời).
Những đổi mới, cách tân trên phương diện nội dung và hình thức thể hiện của thơ nữ Việt Nam sau 1975 đã góp phần tạo nên dòng chảy xuyên suốt, sự kế thừa, nối tiếp và sáng tạo trong hành trình đổi mới thơ ca dân tộc.