Chương 1: Một số vấn đề lí luận về tổ chức và hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam 9 Luan van Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “tổ chức” và “cơ cấu của tổ chức” 1. Tổ chức Tổ chức là một hệ thống tập hợp của hai hay nhiều người, nhóm người, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi (lĩnh vực, chức năng) tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được mục tiêu chung.
Tổ chức được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau và khá linh hoạt. Tổ chức xuất hiện gắn liền với nhu cầu phải liên kết nhiều người với nhau để làm những việc chung mà với tư cách là các cá nhân riêng lẻ thì không làm được. Như vậy tổ chức nghĩa là liên hiệp nhiều người lại để thực hiện những công việc nào đó. Song bản thân hình thức liên hiệp đó cũng gọi là một tổ chức.
Sự ra đời của thuật ngữ tổ chức gắn liền với sự trưởng thành và phát triển của các loại hoạt động xã hội. Tổ chức được xem là một hệ thống của hai hay nhiều người, phối hợp với nhau nhằm đạt được những mục tiêu chung. Xét trên tổng thể, tổ chức đòi hỏi có ít nhất hai người trở lên, có sự liên kết với nhau nhằm hướng đến mục tiêu chung. Xét về bản chất, tổ chức do con người tạo nên.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này chỉ mang tính tương đối, vì trong thực tế có những tổ chức do tạo hóa sinh ra, như các cơ thể sống chẳng hạn. Cơ cấu của tổ chức Việc bố trí sắp xếp các yếu tố cấu thành tổ chức theo những cách thức khác nhau tạo nên một tổng thể gọi chung là cơ cấu tổ chức. Theo nghĩa thông thường, cơ cấu tổ chức được hiểu là các bộ phận cấu thành của tổ chức và các mối quan hệ giữa các bộ phận đó. Có thể hiểu cơ cấu tổ chức là cấu trúc bên trong và các quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận cấu thành tổ chức thể hiện cơ chế điều hành, phối hợp trong hoạt động của tổ chức.
10 Luan van Cơ cấu của tổ chức giữ một vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức. Vì vậy, một cơ cấu tổ chức cần được đảm bảo: - Việc xác định các chức năng cụ thể phải phù hợp với các chức năng cơ bản của tổ chức; - Phải có chủ thể đảm nhận chức năng đã được xác định; - Không trùng lặp chức năng, nghĩa là không thể có nhiều bộ phận cùng đảm nhận một chức năng; - Một bộ phận hoặc cá nhân có thể bố trí đảm nhiệm một số chức năng gần giống nhau hoặc có quan hệ hữu cơ với nhau, nhưng phải đảm bảo kỹ năng tác nghiệp theo yêu cầu của từng chức năng. Mỗi một tổ chức dù lớn hay bé đều có sự phân chia nhất định những hoạt động của mình nhằm đạt đến mục tiêu chung đã đề ra. Sự sắp xếp các yếu tố, bộ phận của tổ chức có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của tổ chức để đạt được mục tiêu chung Việc xác định cơ cấu của tổ chức bị ảnh hưởng bởi những yếu tố sau: - Chiến lược phát triển tổ chức: Cơ cấu tổ chức và chiến lược tổ chức có mối quan hệ tác động qua lại với nhau.
Cơ cấu tổ chức là một công cụ quan trọng thực hiện chiến lược phát triển tổ chức. Chiến lược phát triển tổ chức quyết định cơ cấu tổ chức. Mục tiêu của tổ chức được hình thành từ chiến lược phát triển tổ chức. Tùy theo giai đoạn phát triển tổ chức, chiến lược của tổ chức sẽ có những nội dung cũng như tính chất phức tạp khác nhau.
Nếu chiến lược tổ chức thay đổi thì hệ thống các mục tiêu của tổ chức cũng thay đổi. Khi hệ thống mục tiêu của tổ chức thay đổi hoặc mở rộng thường dẫn đến thay đổi cơ cấu tổ chức nhằm thích ứng với sự thay đổi của tổ chức. - Quy mô tổ chức: Quy mô của tổ chức ảnh hưởng đến hầu hết các nhân tố đặc trưng của cơ cấu tổ chức, đặc biệt là trình độ chuyên nghiệp hóa, thứ bậc và biên độ quản lý. Khi quy mô tăng lên đến một tới hạn nào đó thì cơ cấu tổ chức cũng phải thay đổi để thích ứng.
11 Luan van - Kỹ thuật, công nghệ mà tổ chức sử dụng: Cơ cấu tổ chức cũng gắn liền với kĩ thuật, công nghệ mà tổ chức sử dụng để chuyển đối những đầu vào thành các sản phẩm đầu ra của tổ chức. Công nghệ càng hiện đại thì nguồn nhân lực càng tinh và vì thế cơ cấu tổ chức càng gọn. Tuy nhiên, kĩ thuật và công nghệ còn là tri thức, kĩ năng của đội ngũ cán bộ, nhân viên của tổ chức. Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến việc xác định cơ cấu của tổ chức.
- Quyền lực của tổ chức: Quyền lực của tổ chức được phân bổ như thế nào cũng sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức. Nếu quyền lực tập trung, tổ chức có cơ cấu chặt chẽ. Nếu quyền lực của tổ chức được mở rộng với sự tham gia của nhiều người, thì tổ chức có cơ cấu phân quyền tương đối. - Môi trường của tổ chức: Tùy thuộc vào điều kiện của môi trường mà các nhà thiết kế tổ chức có thể lựa chọn cơ cấu tổ chức phù hợp.
Môi trường của tổ chức bao gồm các đặc điểm nghề nghiệp, đặc điểm thị trường, chính sách của nhà nước. những nhân tố này ảnh hưởng đến tổ chức từ hai mặt: tính phức tạp và sự ổn định của môi trường. Môi trường càng phức tạp và càng thay đổi nhiều thì tổ chức phải có cơ cấu thích ứng mạnh và phải có nhiều đối sách để loại trừ những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến tổ chức. - Chu kỳ đời sống của tổ chức: Quá trình phát triển của tổ chức trải qua nhiều giai đoạn: ra đời, lớn lên, trưởng thành, phát triển, suy tàn và suy vong.
Ở những giai đoạn khác nhau, có những mâu thuẫn và những vấn đề phải đối mặt không giống nhau và vì vậy, việc xác định cơ cấu tổ chức cũng khác nhau. Khái niệm “Tổ chức khoa học và công nghệ công lập” Đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực khoa học công nghệ được gọi là đơn vị khoa học công nghệ công lập, hay còn gọi là tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Theo Luật Khoa học và Công nghệ 2013, Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật. Theo đó, Tổ chức khoa học và công nghệ theo hình thức sở hữu có thể chia thành tổ chức 12 Luan van khoa học và công nghệ công lập; tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập và tổ chức khoa học và công nghệ có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong số các đơn vị sự nghiệp công lập thì tổ chức khoa học và công nghệ do Nhà nước thành lập không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung mà còn chịu sự điều chỉnh của Luật Khoa học công nghệ và các văn bản dưới luật đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, được Bộ Công thương thành lập theo quyết định số 0366/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ngày 28/8/2007. Do đó, theo tiêu chí phân loại, đây là tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Khái niệm “cơ cấu tổ chức của tổ chức khoa học và công nghệ” Cơ cấu tổ chức của tổ chức khoa học và công nghệ công lập là cách thức sắp xếp cơ cấu tổ chức sao cho tổ chức đạt được hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ của mình, là cấu trúc bên trong và quan hệ bên trong tổ chức.
Các cá nhân, bộ phận cấu thành tổ chức, thể hiện cơ chế điều hành, điều phối trong hoạt động của tổ chức để từ đó thực hiện các mục tiêu khoa học công nghệ đã được đề ra. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập là đơn vị khoa học công nghệ công lập, chính vì vậy, cách thức tổ chức cũng như tổ chức của tổ chức khoa học và công nghệ công lập công lập cũng giống như cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập. Để hoạt động được hiệu quả và thực hiện được mục tiêu, cơ cấu tổ chức của tổ chức khoa học và công nghệ công lập cần được đảm bảo: Việc xác định các chức năng cụ thể phải phù hợp với các chức năng cơ bản của tổ chức khoa học và công nghệ công lập; Phải có chủ thể đảm nhận chức năng đã được xác định; Không trùng lắp chức năng, nghĩa là không thể có nhiều bộ phận cùng đảm nhận một chức năng; Một bộ phận hoặc cá nhân có thể bố trí đảm nhiệm một số chức năng gần giống nhau hoặc có quan hệ hữu cơ với nhau, nhưng phải đảm bảo kỹ năng tác nghiệp theo yêu cầu của từng chức năng. Khái niệm “hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ” Hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ có thể được hiểu là những hoạt động mà tổ chức khoa học và công nghệ triển khai trong phạm vi quyền hạn của tổ chức nhằm thực hiện những nhiệm vụ của tổ chức theo quy định và đạt được mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập nhằm tăng cường trách nhiệm và nâng cao tinh thần tích cực, chủ động sáng tạo của tổ chức khoa học và công nghệ [11]. Điều đó đã tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ, từng bước nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của Việt Nam.