Cải tiến hoạt động tiêu thụ sản phẩm trang thiết bị may mặc của công ty Vinatex ở thị trường nội địa

Cải tiến hoạt động tiêu thụ sản phẩm trang thiết bị may mặc của Vinatex tại thị trường nội địa, luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kinh tế Đối ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2009

126
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các khái niệm và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về ngành thuỷ sản

2.2. Những điều kiện cơ bản cho sự phát triển của ngành thuỷ sản xuất khẩu

2.3. Tình hình phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam

2.4. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong những năm qua

2.5. Phân tích năng lực cạnh tranh của hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam trong thời gian qua

2.5.1. Doanh thu của hàng thuỷ sản xuất khẩu qua các năm

2.5.2. Thị phần của hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam

2.5.3. Năng lực cạnh tranh về giá bán sản phẩm

2.5.4. Năng lực cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thuỷ sản

2.5.5. Năng lực cạnh tranh về kiểu dáng mẫu mã và sự khác biệt của sản phẩm

2.5.6. Năng lực cạnh tranh về thương hiệu

2.5.7. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam

2.6. Đánh giá tác động của WTO đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

2.7. Những điểm mạnh về năng lực cạnh tranh hàng thuỷ sản Việt Nam

2.8. Những hạn chế của năng lực cạnh tranh hàng thuỷ sản Việt Nam

2.9. Nguyên nhân của những hạn chế của năng lực cạnh tranh hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP WTO

3.1. Các nhân tố tác động và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam

3.1.1. Các nhân tố quốc tế

3.1.2. Các nhân tố trong nước

3.2. Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam trong những năm tới

3.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO

3.3.1. Các giải pháp từ phía nhà nước

3.3.2. Các giải pháp từ phía doanh nghiệp

3.3.3. Giải pháp từ phía Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về cải tiến tiêu thụ sản phẩm may mặc của Vinatex

Ngành may mặc Việt Nam, đặc biệt là Vinatex, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc cải tiến tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa. Sự cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các thương hiệu quốc tế và sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng đòi hỏi Vinatex phải có những chiến lược phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh.

1.1. Tình hình hiện tại của Vinatex trên thị trường nội địa

Vinatex hiện đang chiếm lĩnh một phần lớn thị trường may mặc nội địa. Tuy nhiên, sự gia tăng của các thương hiệu nước ngoài và sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng đang tạo ra áp lực lớn cho Vinatex.

1.2. Xu hướng tiêu dùng trong ngành may mặc hiện nay

Người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến chất lượng và tính bền vững của sản phẩm. Điều này yêu cầu Vinatex phải cải tiến không chỉ về sản phẩm mà còn về quy trình sản xuất.

II. Những thách thức trong việc cải tiến tiêu thụ sản phẩm may mặc của Vinatex

Vinatex đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc cải tiến tiêu thụ sản phẩm. Các yếu tố như sự cạnh tranh khốc liệt, thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng và áp lực từ các chính sách thương mại quốc tế đang ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm.

2.1. Cạnh tranh từ các thương hiệu quốc tế

Sự xuất hiện của nhiều thương hiệu quốc tế với sản phẩm chất lượng cao và giá cả cạnh tranh đang tạo ra áp lực lớn cho Vinatex trong việc giữ vững thị phần.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng

Người tiêu dùng hiện nay không chỉ quan tâm đến giá cả mà còn đến chất lượng và tính bền vững của sản phẩm. Vinatex cần phải nắm bắt xu hướng này để cải tiến sản phẩm.

III. Phương pháp cải tiến tiêu thụ sản phẩm may mặc của Vinatex

Để nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm, Vinatex cần áp dụng một số phương pháp cải tiến hiệu quả. Các chiến lược marketing, cải tiến chất lượng sản phẩm và phát triển kênh phân phối là những yếu tố quan trọng.

3.1. Chiến lược marketing hiệu quả

Vinatex cần xây dựng các chiến lược marketing phù hợp để thu hút khách hàng, bao gồm việc sử dụng các kênh truyền thông xã hội và quảng cáo trực tuyến.

3.2. Cải tiến chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng. Vinatex cần đầu tư vào công nghệ sản xuất và nguyên liệu để nâng cao chất lượng sản phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tiêu thụ sản phẩm may mặc của Vinatex

Việc áp dụng các phương pháp cải tiến tiêu thụ sản phẩm đã mang lại những kết quả tích cực cho Vinatex. Doanh thu và thị phần của Vinatex đã có sự tăng trưởng đáng kể trong thời gian qua.

4.1. Kết quả từ các chiến lược marketing

Các chiến lược marketing đã giúp Vinatex tiếp cận được nhiều khách hàng mới và tăng cường sự nhận diện thương hiệu trên thị trường.

4.2. Tác động của cải tiến chất lượng sản phẩm

Cải tiến chất lượng sản phẩm đã giúp Vinatex nâng cao sự hài lòng của khách hàng, từ đó tăng cường khả năng tiêu thụ sản phẩm.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho Vinatex trong ngành may mặc

Vinatex cần tiếp tục cải tiến và đổi mới để duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường nội địa. Định hướng phát triển bền vững và chú trọng đến nhu cầu của người tiêu dùng sẽ là chìa khóa cho sự thành công trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Vinatex cần xây dựng các chiến lược phát triển bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm.

5.2. Tăng cường nghiên cứu và phát triển

Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sẽ giúp Vinatex tạo ra những sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

25/07/2025
Cải tiến hoạt động tiêu thụ sản phẩm trang thiết bị may mặc của công ty xuất nhập khẩu dệt may vinatex ở thị trường nội địa luận văn ths kinh doanh và quản lý 60 34 05

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv… điều này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra là quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia.

Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tự do kinh tế phát triển ở Anh với lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo. Các lý thuyết này cho rằng phát triển tự do trao đổi hàng hoá sẽ tăng cường sự phân công lao động và chuyên môn hoá ngày càng sâu. Cạnh tranh sẽ làm cân bằng cung cầu, làm cho sự phân phối tài nguyên được hợp lý, làm cho sản phẩm ngày càng tốt và rẻ. Lý thuyết này khẳng định rằng muốn cho cạnh tranh phát triển, Nhà nước phải đề ra các chính sách thích hợp để khuyến khích kinh doanh phát triển cả ở thị trường trong nước và ngoài nước, nhưng Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào cạnh tranh, chỉ nên tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh phát triển.

Trong cuốn “Tóm tắt phê phán kinh tế chính trị học” Engels cũng nghiên cứu vấn đề cạnh tranh. Ông nói, địa tô, lợi nhuận, tiền lương phụ thuộc vào cạnh tranh. Cạnh tranh sinh ra độc quyền, độc quyền lại làm cho cạnh tranh ngày càng sâu sắc hơn. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch ".

Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận Từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước phát triển, cạnh tranh độc quyền phát triển mạnh, các nhà tư bản cấu kết với Chính phủ để giữ được vị trí lâu dài. Cạnh tranh độc quyền gây bất ổn trong xã hội: trao đổi bất bình đẳng, thất nghiệp tăng, kéo dãn khoảng cách giàu nghèo, lợi nhuận chỉ tập trung vào một số nhỏ nhà tư bản và kìm hãm tốc độ sáng tạo. Tuy nhiên độc quyền không thể xoá bỏ cạnh tranh.

Trước năm 1970 của thế kỷ trước, các biện pháp cạnh tranh thường là giá cả, điều kiện mua bán, quảng cáo. Nhưng sau năm 1970 các biện pháp đó đã nhường chỗ cho cạnh tranh chất lượng, cạnh tranh của sản phẩm mới, kỹ thuật mới, phương pháp quản lý mới, tốc độ cung cấp sản phẩm và dịch vụ đi kèm. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là " Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1): Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất.

11 Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh”, thuộc dự án VIE/97/016 (Dự án hỗ trợ thương mại đa biên) thì cho rằng: Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua. Tuy nhiên, ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội.

Do vậy từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây: cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trên thị trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành dật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao. Như vậy, cạnh tranh xuất hiện khi có nhiều chủ thể có cùng một mục tiêu kinh tế và khi các lợi ích kinh tế không đủ thoả mãn nhu cầu của tất cả các bên tham gia. Trên thực tế có cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, giữa những người bán hàng, giữa những người mua, và giữa những người mua với người sản xuất, người bán hàng. Năng lực cạnh tranh Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để dành được chiến thắng các chủ thể phải có được năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến và nó trở thành đề tài của nhiều cuộc tranh luận. 12 Theo OECD định nghĩa thì “năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Mặc dù có sự khác nhau trong định nghĩa song năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là thực lực và lợi thế của chủ thể so với các đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu được lợi ích ngày càng cao cho mình.

Như vậy, cạnh tranh là quy luật kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường, cùng với quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, muốn tồn tại và phát triển các chủ thể phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh cho mình. Các chủ thể ở đây có thể là một doanh nghiệp, một ngành hoặc một quốc gia. Tuy nhiên xét cho cùng năng lực cạnh tranh của chúng đều được thể hiện thông qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Các cấp độ cạnh tranh 1.

Cạnh tranh quốc gia Sự thịnh vượng của một quốc gia được tạo ra chứ không phải kế thừa. Nó không phát triển từ sự sẵn có tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, lãi suất hay giá trị tiền tệ của một quốc gia giống như kinh tế học cổ điển đã khẳng định. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào năng lực của các ngành trong việc đổi mới và nâng cấp của quốc gia đó. Lợi thế cạnh tranh được tạo ra và duy trì thông qua một quá trình địa phương hoá cao độ.

Tất cả những khác biệt về giá trị, văn hoá, cơ cấu kinh tế, định chế và lịch sử 13 của các nước đều đóng góp cho sự thành công về cạnh tranh. Đây là những khác biệt đáng kể trong các kiểu hình của năng lực cạnh tranh tại mọi quốc gia. Cho đến nay, khái niệm về năng lực cạnh tranh ngành hay doanh nghiệp đã rất rõ ràng nhưng khái niệm về năng lực cạnh tranh của một quốc gia vẫn chưa thống nhất. Một số người xem năng lực cạnh tranh quốc gia như là một hiện tượng kinh tế vĩ mô, được thúc đẩy bởi các biến số như là tỷ giá hối đoái, lãi suất và thâm hụt của chính phủ nhưng Nhật Bản, Ý, Hàn Quốc đều tận hưởng được mức sống gia tăng nhanh chóng cho dù có thâm hụt của chính phủ; Đức và Thuỵ Sĩ cho dù sự tăng giá của đồng nội tệ; Ý và Hàn Quốc cho dù lãi suất cao.

Một số người lại lập luận năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào lao động rẻ và dư thừa, nhưng Đức, Thuỵ Sĩ và Thuỵ Điển đều phát triển thịnh vượng ngay cả khi có sự thiếu hụt lao động và tiền lương rất cao. Một quan điểm khác liên kết khả năng cạnh tranh với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng Đức, Nhật Bản, Thuỵ Sĩ và Hàn Quốc vẫn rất thành công dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế v.v… Lý thuyết cổ điển giải thích sự thành công của một quốc gia trong những ngành cụ thể được dựa trên các nhân tố sản xuất như đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên. Các quốc gia đạt được lợi thế so sánh dựa vào nhân tố trong các ngành sử dụng thâm hụt các nhân tố mình dư thừa. Tuy thế, lý thuyết cổ điển đã bị che mờ trong các ngành và nền kinh tế tiên tiến bởi sự toàn cầu hoá của cạnh tranh và quyền năng của công nghệ.

Lý thuyết mới ra đời phải chuyển từ lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. Lý thuyết này phải phản ánh một khái niệm phong phú về sự cạnh tranh bao gồm các thị trường bị phân khúc, các sản phẩm khác biệt, những khác biệt về công nghệ, và hiệu quả kinh tế tăng theo quy mô. Cạnh tranh ngành Năng lực cạnh tranh của Ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia) trong ngành so với đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp. Ngành ở đây không phải là giữa các ngành trong một quốc gia mà là giữa các ngành khi so sánh các quốc gia với nhau (ví dụ ngành thuỷ sản ở nước A có lợi thế cạnh tranh với ngành thuỷ sản nước B không?).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ