phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mu ̣c ký hiê ̣u viế t tắ t, danh mu ̣c bảng, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp truyền hình. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng cơ chế quản lý tài chính ở Đài Truyền hình Việt Nam trong thời gian qua.
Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở Đài Truyền hình Việt Nam. 4 z CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP TRUYỀN HÌNH 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có không ít các công trình nghiên cứu đƣợc công bố trong và ngoài nƣớc, sau đây là một số công trình tiêu biểu: - “Tài chính công – lý thuyết và thực tiễn“ của Alan ( 1979): cuốn sách bàn về những nội dung cơ bản nhất của tài chính công. Trong công trình này, các nội dung lý thuyết và thực tiễn đƣợc lồng ghép và phân tích một cách khá chi tiết và có hệ thống. - “Một số vấn đề cơ bản về tài chính công và cải cách tài chính công“ của tác giả Bùi Thị Minh Huyền (2003).
Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề cơ bản về lý thuyết tài chính công; đặc trƣng và vài trò của tài chính công trong phát triển kinh tế - xã hội. Cuốn sách cũng đánh giá thực trang tài chính công ở Việt Nam và sự cần thiết phải cải cách tài chính công. - “Tăng cƣờng cải cách tài chính công nhằm thúc đẩy cải cách hành chính của Lê Chi Mai (2003). Cuốn sách tập trung phân tích vai trò, sự cần thiết và nội dung của cải cách tài chính công trong việc thúc đẩy nền cải cách hành chính nói chung ở Việt Nam.
- “Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc“ của Trần Minh Tá và Bạch Thị Minh Huyền (1996). Nội dung chủ yếu của công trình bàn về sự cần thiết phải tiến hành đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính trong quá trình phát triển kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Công trình cũng nghiên cứu, đề xuất định hƣớng và các giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam. - Bộ Tài chính (2003), báo cáo tham luận của các bộ và địa phƣơng tổng kết triển khai thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/12/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu và quyết định 5 z 192/2001/QĐ-TTG ngày 17/2/2001 của Thủ tƣớng chính phủ về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính sự nghiệp ở Hà Nội - Bộ Tài chính – Vụ Ngân sách nhà nƣớc (2005) báo cáo kết quả khảo sát kinh nghiệm của Hungary và Cộng Hòa Liên bang Đức trong quản lý tài chính ngân sách.
- “Đổi mới quản lý tài chính ở đơn vị hành chính sự nghiệp có thu“ của Phan Thị Cúc (2002) đề cập đến các nguồn kinh phí đảm bảo và các khoản cho chi cho đơn vị sự nghiệp có thu công lập, ngoài công lập và vấn đề đổi mới cơ chế quản lý tài chính. - “Quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học“, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hƣơng (2014). Luận án đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản về khái niệm, mô hình, các hình thức, công cụ quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các trƣờng đại học công lập nói riêng. Luận án phân tích đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội và đề xuất các định hƣớng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Các bài viết về Quản lý tài chính, cơ chế quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có thu đăng trên các tạp chí kinh tế trong nƣớc và quốc tế. Các công trình nghiên cứu nói trên đều nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau về tài chính công, cải cách tài chính công; chính sách và cơ chế quản lý tài chính công trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên theo nhận thức của tác giả chƣa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ chế quản lý tài chính tại một đơn vị sự nghiệp có thu, cụ thể là Đài truyền hình Việt Nam.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Khái niệm, đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Khái niệm: 6 z Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập, để thực hiện một số chức năng nhiệm vụ do Nhà nƣớc giao, trong đó chủ yếu là cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Trong quá trình hoạt động, đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc Nhà nƣớc cho phép thu một số loại phí, lệ phí, đƣợc tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức.
Đơn vị sự nghiệp công lập có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập có những điểm khác với cơ quan hành chính nhà nƣớc. Cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc của mình, cung ứng các dịch vụ hành chính công. Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nƣớc với nhân dân và chỉ có Nhà nƣớc mới có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó.
Nhà nƣớc với tƣ cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn ngƣời dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nƣớc dƣới hình thức thuế; Quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trƣờng một cách đầy đủ: ngƣời sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó khi hƣởng thụ. Trong khi đó, do dịch vụ của đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng có thể có sự tham gia cạnh tranh của khu vực tƣ nhân nên các đơn vị này đƣợc phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình, ngƣời sử dụng dịch vụ có thể phải chi trả cho việc sử dụng dịch vụ nên hình thành quan hệ mua bán, trao đổi.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập a, Đặc điểm hoạt động: - Đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời: Các đơn vị sự nghiệp đƣợc thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Trong quá trình hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thể đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí hoạt động. Các sản phẩm dịch vụ do đơn vị sự nghiệp cung ứng cần đƣợc sử dụng thì có thể do Nhà nƣớc đứng ra 7 z cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng.
Trong trƣờng hợp có thu tiền của ngƣời tiêu dùng thì cũng chỉ thu để bù đắp một phần chi phí đầu vào để tạo ra chúng. Tuy nhiên, xã hội ngày càng đòi hỏi tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đƣợc hiểu ở hai khía cạnh: Chất lƣợng phục vụ và tiết kiệm nguồn lực cho xã hội. - Sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lợi ích chung và có tính lâu dài: Hoạt động sự nghiệp chủ yếu là cung cấp dịch vụ công cộng, tạo ra những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội. là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối tƣợng trên phạm vi rộng.
Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định. Những sản phẩm đó khi tiêu dùng thƣờng có tác dụng lan tỏa. b, Đặc điểm về tài chính : - Đơn vị sự nghiệp đƣợc vay tín dụng ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ phát triển để mở rộng và nâng cao chất lƣợng hoạt động sự nghiệp, tổ chức cung ứng dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định pháp luật. - Đơn vị sự nghiệp quản lý, sử dụng tài sản Nhà nƣớc nhƣ đơn vị sản xuất kinh doanh.
Tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, cung ứng dịch vụ thực hiện trích khấu hao, thu hồi vốn theo chế độ áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu do thanh lý tài sản cố định thuộc tài chính nhà nƣớc đƣợc để lại để đầu tƣ tăng cƣờng cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị của đơn vị. - Đƣợc mở tài khoản tiền gửi tại các Ngân hàng thƣơng mại hoặc Kho bạc Nhà nƣớc để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động cung ứng dịch vụ: Mở tài khoản tại kho bạc Nhà nƣớc để phản ánh các khoản kinh phí thuộc NSNN cấp. - Đối với khoản chi hành chính (công tác phí, hội nghị phí, điện thoại.) chi hoạt động nghiệp vụ thƣờng xuyên, tùy theo từng nội dung công việc nếu xét thấy 8 z cần thiết, có hiệu quả, thủ trƣởng đơn vị đƣợc quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nƣớc quy định trong phạm vi nguồn thu đƣợc sử dụng.
- Hằng năm căn cứ vào kết quả tài chính, đơn vị đƣợc trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, quỹ khen thƣởng, quỹ phúc lợi, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Mức trích quỹ khen thƣởng và quỹ phúc lợi không vƣợt quá 3 tháng lƣơng thực tế bình quân trong năm.2 Phân loại các đơn vị sự nghiệp: Dựa vào các tiêu thức khác nhau đơn vị sự nghiệp có thu cũng đƣợc phân thành nhiều loại khác nhau: 1.1 Căn cứ vào cấp quản lý đơn vị sự nghiệp gồm: - Đơn vị sự nghiệp có thu ở Trung ƣơng nhƣ Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trƣờng học do các Bộ ngành, cơ quan ở Trung ƣơng quản lý.