Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ 1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm nghề Nghề là một hiện tượng xã hội có tính chất lịch sử rất phổ biến, có sự gắn bó chặt chẽ với phân công lao động xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nền văn minh nhân loại. Vì lẽ đó, khái niệm nghề được nhiều ngành khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa nghề được đưa ra nhưng chưa có được một khái niệm thống nhất.
Nghề có thể được hiểu là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được hoặc là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật. Theo một cách hiểu khác thì nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định. Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc.Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành cả một nền công nghiệp tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ.
Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời,v. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tùy thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động.
Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vứng một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm… 7 Nghề cũng là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu xã hội. Dù được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng khái niệm về nghề có một số nét đặc trưng nhất định như: - Là hoạt động, công việc về lao động của con người, được lặp đi lặp lại - Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
- Là phương tiện để tạo ra thu nhận cho người lao động - Là hoạt động sử dụng kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo. Khái niệm về nghề luôn biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Khi môi trường chính trị và môi trường kinh tế có sự biến động thì cách hiểu về nghề cũng cần phải thay đổi theo để thích ứng với sự thay đổ của môi trường xung quanh. Điều đó sẽ giúp cho việc quản lý nghề phát huy được vai trò của nó, và người lao động-người sử dụng lao động cũng có thể thực hiện được nguyên tắc: hai bên cùng có lợi.
Tóm lại, nghề là công việc về lao động của con người, là một hoạt động được lặp đi lặp lại; trong hoạt động này người lao động sử dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt đã được đào tạo nhằm tạo ra thu nhập cho bản thân và tạo ra của cải vật chất xã hội. Khái niệm đào tạo nghề Đào tạo-hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng-được hiểu là các hoạt động hoạc tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Nếu nhìn nhận đào tạo dưới góc độ kinh tế lao động thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu là: Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định.
8 Đào tạo nghề là quá trình giáo dục nghề nghiệp cho người lao động để họ tích lũy được kỹ năng, kỹ xảo, yêu cầu của nghề nghiệp cũng như các yêu cầu của tổ chức sản xuất, tổ chức lao động trong doanh nghiệp. Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Theo quy định của Luật giáo dục, hệ thống giáo dục bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và sau đại học. Theo như hệ thống đào tạo nghề quốc dân, chúng ta có thể thấy rằng sự liên thông giữa các cấp học, các điều kiện cần thiết để học nghề hoặc các cấp học tiếp theo.
Nó là cơ sở quản lý giáo dục, nâng cao hiệu quả của đào tạo, tránh lãng phí trong đào tạo (cả người học và xã hội), tránh trùng lặp nội dung chương trình, đồng thời là cơ sở đánh giá trình độ người học va cấp các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp. Tuy nhiên sự liên thông giữa các cấp đào tọ nghề chưa rõ ràng. Bộ phận được phân luồng học nghề cấp học dưới khi muốn học nghề ở cấp cao thì theo con đường nò hay thì lại phải tiếp tục học cấp cao hơn thì mới chuyển được. Dạy nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau: - Dạy nghề gắn chặt với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường.
Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để người học trở thành người lao động trong các doanh nghiệp. - Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tới 90-100%. - Đối tượng học nghề là những người đã trưởng thành, thậm chí đã lớn tuổi. - Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Dạy nghề dài hạn, Dạy nghề ngắn hạn; Dạy nghề theo modul; Dạy nghề kèm cặp; Dạy nghề lưu động.
Khái niệm về quản lý đào tạo nghề Quản lý đào tạo nghề là quá trình tác động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào đối tượng của đào tạo nghề để điều chỉnh quá trình xã hội và hành vi của người học, đội ngũ giảng viên nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của những đối tượng trên theo những mục tiêu quản lý đã định. 9 Cụ thể: - Chủ thể quản lý đào tạo là những người thực hiện chức năng quản lý nhằm đảm bảo cho cơ sở đào tạo đạt được những mục tiêu đào tạo với kết quả và hiệu quả cao. Theo phân cấp quản lý, chủ thể quản lý đào tạo trong cơ sở đào tạo gồm ba loại: + Cán bộ quản lý đào tạo cấp cao: là những người chịu trách nhiệm quản lý toàn diện đối với hoạt động dạy nghề của cơ sở đào tạo. Họ có quyền: quyết định chiến lược đào tạo hoặc có ảnh hưởng lớn đến các chiến lược; quyết định các chính sách; chỉ đạo các mối quan hệ của cơ sở đào tạo với môi trường ngành nghề của mình.
Trong cơ sở đào tạo thì cán bộ quản lý cấp cao chính là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng đào tạo. + Cán bộ quản lý đào tạo cấp trung: là những người chịu trách nhiệm quản lý những bộ phận và phân hệ của cơ sở đào tạo. Trách nhiệm của các nhà quản lý cấp trung là chỉ đạo quá trình triển khai các chính sách của cơ sở đào tạo và thiết lập mối quan hệ cân bằng giữa đòi hỏi cảu những nhà quản lý với năng lực của các nhân viên. Trong cơ sở đào tạo, họ chính là Trưởng/phó Phòng Đào tạo.
+ Cán bộ quản lý đào tạo cấp cơ sở: là những người chịu trách nhiệm trước công việc của những người lao động trực tiếp. Họ không kiểm soát hoạt động của các nhà quản lý khác. Trong cơ sở đào tạo, họ chính là Trưởng/ Phó các khoa nghề và những cán bộ thuộc phòng Đào tạo. - Đối tượng của quản lý đào tạo nghề chính là người học, đội ngũ giảng viên, chất lượng đào tạo,…Người học chính là tâm điểm của hoạt động dạy và học.
Kết quả học tập của người học chính là một minh chứng cho chất lượng đào tạo. Trong hoạt động quản lý đào tạo nghề, đội ngũ giảng viên giữ vai trò là người định hướng, người chỉ dẫn, người hỗ trợ và là một huấn luyện viên. - Mục tiêu quản lý đào tạo nghề: Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 10 Mục tiêu quản lý đào tạo nghề là hệ thống những việc làm hoạt động cụ thể của cơ sở đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đào tạo nghề đã đề ra.
Cụ thể mục tiêu quản lý đào tạo nghề được thể hiện thông qua các tiêu chí sau: - Số chương trình đào tạo nghề hẹ cao đẳng đã thực hiện - Số sinh viên học nghề đã được đào tạo tại trình độ cao đẳng - Chất lượng của sinh viên hệ cao đẳng nghề đã qua đào tạo Để công tác quản lý đào tạo nghề đạt hiệu quả cần phải thực hiện công quản lý theo quy trình như quản lý giáo dục, kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.