phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, KLTN bao gồm 3 phần: - Cơ sở lý luận về PTTCKHDN phục vụ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại. - Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu. - Thực trạng công tác PTTCKHDN phục vụ HĐTD tại ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Đông Đô. 4 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Cơ sở lý luận về phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp phục vụ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại 2. Khái niệm phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và nay, việc này giúp cho nhà quản lý đưa ra quyết định chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp. Từ đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ. Từ đầu thế kỉ 20 tới nay phân tích tài chính thực sự được phát triển và được chú trọng hơn bao giờ hết bởi nhu cầu quản lí doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển của hệ thống tài chính, sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh và khả năng ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin.
Hoạt động phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quá trình quản lí doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc ra quyết định của các chủ thể như nhà quản lí, nhà đầu tư, cho vay, cơ quan thuế hay đáp ứng yêu cầu của những người muốn có thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp như thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư, người lao động trong doanh nghiệp. để thực hiện công việc của họ tốt hơn. Đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động chủ yếu là huy động và tín dụng. Để ngân hàng hoạt động có hiệu quả thì điều quan trọng bậc nhất là các khoản tín dụng của ngân hàng cấp cho khách hàng phải luôn đảm bảo ở mức an toàn.
Cơ sở để hình thành một khoản tín dụng tốt phụ thuộc rất nhiều vào việc phân tích tài chính khách hàng. Qua kết quả của phân tích tài chính khách hàng, người cho vay sẽ nắm được tình hình sản xuất kinh doanh ở hiện tại cũng như trong quá khứ của doanh nghiệp, phân tích tài chính khách hàng sẽ trả lời cho họ những câu hỏi như khách hàng có phương án sử dụng vốn hiệu quả không? Mục đích sử dụng nguồn vốn đó có hợp lí không? Khách 5 hàng có thể trả nợ và lãi đúng hạn hay không? Ngân hàng có quyết định như nào đối với tài sản và thu nhập của khách hàng khi mức cấp tín dụng có vấn đề và ngân hàng có thể thu hồi vốn nhanh chóng với rủi ro và chi phí thấp được hay không?. Do vậy phân tích tài chính khách hàng được xem là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tóm lại, phân tích tài chính doanh nghiệp tại NHTM là một quá trình NHTM xem xét, kiểm tra các số liệu tài chính hiện tại và quá khứ, những chuyển biến theo xu hướng của một doanh nghiệp nhằm mục đích đánh giá năng lực tài chính, dự báo các rủi ro và tìm thấy những thông tin tiềm năng tương lai của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, giúp NHTM có những thông tin hữu ích để ra quyết định đúng đắn khi cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Thứ nhất, phân tích tài chính giúp NHTM đưa ra quyết định cấp hạn mức tín dụng đúng đắn. Tài chính doanh nghiệp phản ánh quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá đầy đủ và rõ nét thông qua BCTC và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng.
Như vậy phân tích BCTC nhằm đánh giá thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp để quyết định cho vay đúng đắn, quyết định phương hướng, quy mô tài trợ vốn và khả năng thu hồi vốn. Vai trò ra quyết định đúng đắn của ngân hàng sẽ là: Có nên quyết định cấp tín dụng cho doanh nghiệp hay không và nếu tài trợ thì phương án như nào cho hợp lý và hiệu quả. Thứ hai, phân tích tài chính giúp NHTM xác định rõ khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc thu hồi vốn và lãi của ngân hàng, khả năng hoàn trả lại thể hiện ở hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở mức sinh lời 6 cao, khả năng thu hồi vốn và lãi của ngân hàng đối với khách hàng càng cao. Đối với khả năng thanh toán của khách hàng, ngân hàng quan tâm tới khía cạnh là thanh toán đủ và thanh toán đúng hạn. Điều đó thể hiện qua ví dụ: Có những doanh nghiệp hiệu quả, hoạt động kinh doanh tốt, nhưng do lưu chuyển tiền tệ thuần tại một thời điểm nào đó âm làm cho doanh nghiệp thanh toán không đúng hạn. Từ những chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính, ngân hàng sẽ xác định thời hạn hoàn trả một cách hợp lý nhất cho doanh nghiệp.
Chính vì vai trò quan trọng của việc xác định khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng nên hầu hết các ngân hàng luôn chú trọng đến khả năng thanh toán trong quá trình phân tích BCTC của khách hàng. Thứ ba, phân tích tài chính làm cơ sở cho việc đánh giá xếp loại tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp trích lập dự phòng hợp lý. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro và đặc biệt là rủi ro cho vay, điều này chịu tác động của nhiều nguyên nhân có thể là nguyên nhân chủ quan, cũng có thể là nguyên nhân khách quan. Dựa trên kết quả phân tích BCTC của doanh nghiệp, ngân hàng luôn phải theo dõi, đánh giá, xếp loại các khoản tín dụng để có biện pháp phòng ngừa hợp lý.
Thông thường ngân hàng thường trích lập dự phòng các quỹ dự phòng rủi ro, dự phòng cho các khoản nợ xấu và nợ có vấn đề. Việc trích lập dự phòng cũng được quy định trong luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) của ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Để thêm nguồn đảm bảo cho hoạt động của mình, các NHTM còn trích lập dự phòng từ lợi nhuận ròng để lại, nhằm đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được đảm bảo vững chắc, vì lợi ích và sự phát triển lâu đài của ngân hàng. Thứ tư, phân tích BCTC giúp ngân hàng xác định rõ triển vọng của ngân hàng với doanh nghiệp trong tương lai.
Hoạt động tín dụng của các NHTM luôn có những rủi ro xác định, vì vậy quan hệ tín dụng trước hết phải được xây dựng trên cơ sở lòng tin giữa ngân hàng và khách hàng. Các ngân hàng lựa chọn và cấp tín dụng cho khách hàng khi ngân hàng tin tưởng vào sự sẵn sàng trả nợ cả gốc và lãi đúng hạn của khách hàng. Những doanh nghiệp lần đầu tiên quan hệ với ngân hàng, niềm tin mà doanh nghiệp tạo cho ngân hàng ngoài các yếu tố 7 phi tài chính, thì năng lực tài chính lành mạnh (thể hiện ở các chỉ tiêu tài chính) là một yếu tố quan trọng. Chính vì vậy việc xây dựng hệ thống phân tích tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển bền vững của ngân hàng.
Vì thực tế việc một doanh nghiệp thường xuyên thay đổi ngân hàng cung cấp tín dụng thì lại bắt đầu quá trình tạo dựng lòng tin với ngân hàng đó và sự công khai tài chính cũng gây ảnh hưởng tới yêu cầu bảo mật thông tin cho doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với ngân hàng thì việc xác định doanh nghiệp để quan hệ lâu dài cũng là một thuận lợi giảm chi phí giao dịch và tạo sự phát triển bền vững cho hoạt động tính dụng của ngân hàng. Phương pháp phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 2. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng rất phổ biến trong mọi hoạt động phân tích.
Việc sử dụng phương pháp so sánh là nhằm các mục đích: - Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch mà doanh nghiệp đã đặt ra bằng cách so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kỳ thực tế với trị số của chỉ tiêu kỳ kế hoạch. - Đánh giá tốc độ, xu hướng phát triển của hiện tượng và kết quả kinh tế thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trước. - Đánh giá mức độ tiên tiến hay lạc hậu của đơn vị bằng cách so sánh giữa kết quả của bộ phận hay của đơn vị thành viên với kết quả trung bình của tổng thể hoặc so sánh giữa kết quả của đơn vị này với kết quả của đơn vị khác có cùng quy mô hoạt động, trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Tuy nhiên, vấn đề cần chú ý là khi thực hiện phép so sánh, để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn, hai số liệu đưa ra so sánh phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được.
Các điều kiện đó là: + Cùng nội dung kinh tế + Phải thống nhất về phương pháp tính 8 + Phải cùng một đơn vị đo lường và phải được thu thập trong cùng một độ dài thời gian Ngoài ra, các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau. Có 3 dạng so sánh là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh bằng số bình quân. - So sánh bằng số tuyệt đối: Đây là kết quả của phép trừ giữa trị số của chỉ tiêu kỳ phân tích so với trị số của tiêu kỳ gốc. Dạng so sánh này phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu.
Khi sử dụng phương pháp này, các nhà phân tích sẽ thấy được những biến động về quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa phân kỳ phân tích với phân kỳ gốc. - So sánh bằng số tương đối: Đây là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc. Khi sử dụng phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biến động và quy luật biến động của các chỉ tiêu kinh tế.