CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu của Thế giới về phân tích tài chính doanh nghiệp Với sự phát triển và phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế hiện tại thì HĐTD cũng rất được các tổ chức tín dụng quan tâm và có sự điều chỉnh để phù hợp với các giai đoạn phát triển và cấu trúc tài chính của các khách hàng. Trong đó, công tác phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của nhà quản lý, khả năng sinh lời đối với các nhà đầu tư hay đối với các Ngân hàng là năng lực thanh toán nợ vay.
Với tính chất thiết yếu của công tác phân tích, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên Thế giới và cả Việt Nam đã có tìm hiểu chuyên sâu và đưa ra trình bày cá nhân về vấn đề này. Có thể kể đến như: Leopold A.Bernstein (1989) khi nghiên cứu về phân tích tài chính doanh nghiệp đã chú trọng vai trò của phân tích, nội dung phân tích, phương pháp phân tích tài chính trong doanh nghiệp. Tuy nhiên tác giả chưa thực hiện phân tích dự báo rủi ro, dự báo tăng trưởng và xây dựng quy trình phân tích cho các chỉ tiêu. Josette Peyrard (2008) đã đề cập đến những vấn đề của phân tích tài chính doanh nghiệp như phương pháp phân tích, dữ liệu sử dụng trong phân tích tài chính, nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp.
Theo tác giả thì nội dung phân tích tài chính chủ yếu đề cập đến phân tích hiệu quả hoạt động, phân tích khả năng sinh lợi, phân tích rủi ro và phân tích tăng trưởng. Qua đó giúp những người quản lý doanh nghiệp, các ngân hàng, nhà đầu tư có những quyết định đúng đắn.Pirie & cộng sự (2015) đã nêu các phương pháp kỹ thuật phân tích hiệu quả trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính 2008. Nội dung phân tích BCTC bao gồm phân tích doanh thu và chi phí, phân tích tài sản và nguồn vốn, phân tích khả năng thanh toán, phân tích hiệu quả kinh doanh, phân tích rủi ro. Martin Fridson Ferrando Alvarer (1991).
Đã đưa ra kiến thức để đánh giá BCTC, phân tích bảng CĐKT, bảng KQHĐKD, và báo cáo LCTT, nghiên cứu gia tăng độ chính 4 xác của dự báo và phương pháp tổ chức về đánh giá cổ phần, các khoản nợ, doanh thu và nội dung kèm theo. Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến quy trình phân tích 1. Các công trình nghiên cứu của Việt Nam về lý luận phân tích tài chính doanh nghiệp - Các nghiên cứu về khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Nhóm tác giả Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (2008) nêu rằng “Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên BCTC để có thể đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua việc so sánh với các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra hoặc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó đưa ra quyết định và giải pháp quản lý phù hợp”.
Nguyễn Năng Phúc & cộng sự (2008) cho rằng “Phân tích BCTC là phân tích các chỉ tiêu trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau”. - Các nghiên cứu về phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Nguyễn Trọng Cơ & Nghiêm Thị Thà (2015) hay Ngô Thế Chi & Nguyễn Trọng Cơ có cùng cách tiếp cận phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp theo ba nhóm như: Phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích nhân tố và phương pháp dự đoán. Lê Thị Xuân & Nguyễn Xuân Quang (2010) đề cập đến các phương pháp trong phân tích tài chính như phương pháp so sánh, phương pháp phân tổ, phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, phương pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp phân tích Dupont. Ngô Kim Phượng (2009) cũng sử dụng các phương pháp phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ cân đối.
- Các nghiên cứu về nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp Nguyễn Năng Phúc (2006) cho rằng nội dung phân tích tài chính bao gồm: Phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu quy mô, tỷ trọng tài sản, nguồn vốn và các hệ số tự tài trợ; phân tích cấu trúc tài chính, cấu trúc vốn; phân tích khả năng 5 thanh toán; phân tích hiệu quả kinh doanh; định giá doanh nghiệp, phân tích dự báo rủi ro tài chính; dự báo các chỉ tiêu trên các BCTC. Lê Thị Xuân & Nguyễn Xuân Quang (2010) cho rằng nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp nên xoay quanh những khía cạnh chính như phân tích tình hình và kết quả kinh doanh, phân tích các mối quan hệ cân bằng trên bảng Cân đối kế toán (CĐKT), các tỷ số tài chính, lưu chuyển tiền tệ (LCTT) và dự báo BCTC. Ngô Kim Phượng (2009) đã xác lập phân tích tài chính tập hợp theo các nội dung: Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tài chính, phân tích các tỷ số tài chính, phân tích hiệu quả kinh doanh, phân tích chi phí đòn bẩy hoạt động và phân tích báo cáo LCTT. Kế thừa các thành tựu vào sản phẩm nghiên cứu bản thân Đồng thuận với quan điểm nêu trên, em cho rằng các nhà khoa học của các trường Đại học khối kinh tế đều đã làm rõ các vấn đề lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp ở từng khía cạnh như nội dung phân tích, phương pháp phân tích, quy trình phân tích.
Trong đó, những nội dung phân tích được các nhà khoa học đề xuất về cơ bản là giống nhau, chỉ khác biệt nhau ở một số điểm về tập hợp các chỉ tiêu sử dụng. Đồng thời các phương pháp phân tích được các tác giả sử dụng chủ yếu tập trung vào phương pháp đánh giá, phương pháp phân tích nhân tố, và phương pháp dự báo. Về quy trình phân tích có sự thống nhất cao trong các giai đoạn thực hiện là giai đoạn chuẩn bị phân tích (lập kế hoạch phân tích), giai đoạn tiến hành phân tích và giai đoạn kết thúc phân tích. Cơ sở dữ liệu phục vụ phân tích cũng có sự tương đồng cao trong các nhà khoa học khi đề cập đến các thông tin sử dụng cho phân tích tài chính là gồm 2 nguồn cơ bản là thông tin từ hệ thống kế toán và thông tin từ cơ quan thuế địa phương.
Kế thừa thành tựu các nghiên cứu đi trước vào sản phẩm bản thân, khóa luận của em sẽ làm rõ nội dung: Lý luận cơ bản về HĐTD và chi tiết hóa nội dung công tác phân tích TCDN trong các NHTM, phương pháp cũng như quy trình cho các chỉ tiêu nghiên cứu. Tiếp theo, phần hai bài luận sẽ đi vào thực tế nghiệp vụ phân tích tài chính KHDN tại BIDV Sơn Tây, chỉ ra điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân. Và cuối cùng là đề xuất các giải pháp từ vĩ mô đến cụ thể từng cán bộ QLKH và mỗi KHDN để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phân tích này và hướng mới mục tiêu tín dụng hiệu quả, an toàn. Khái quát chung về hoạt động tín dụng của các NHTM 1.
Khái niệm và phân loại tín dụng Khái niệm tín dụng trong NHTM: Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa hai bên là Ngân hàng và bên vay, trong đó Ngân hàng sẽ có các trách nhiệm giải ngân cho bên vay hoặc đối tác thứ ba của bên vay khi phát sinh nhu cầu vốn cho các mục đích hợp pháp và theo thỏa thuận. Ngược lại bên vay có nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên, các giao dịch về tài sản đều được phía Ngân hàng cam kết bằng các chứng từ, hồ sơ đảm bảo giải ngân và thời gian thanh toán, đổi lại bên vay cam kết tài sản có giá trị theo tỷ lệ mà Ngân hàng quy định phù hợp với giá trị khoản vay và khả năng thanh lý nếu phát sinh nợ xấu. Phân loại hình thức tín dụng NHTM: Theo chủ thể tham gia: Bao gồm hai thành phần là thể nhân và pháp nhân.
Tín dụng thể nhân: là tín dụng cho các cá nhân và hộ gia đình, hộ kinh doanh trong xã hội cho các mục đích cá nhân với nhu cầu vốn không lớn, công tác thẩm định không phức tạp mà tập trung chủ yếu vào doanh thu người đứng tên và tài sản đảm bảo. Tín dụng pháp nhân: là hình thức tín dụng cho các chủ thể được pháp luật công nhận có mục đích vay để đầu tư, trang trải vốn lưu động, thanh toán chi phí với bên thứ ba. Công tác thẩm định với đối tượng này sẽ có sự phức tạp cao hơn và BCTC là một trong nhưng yếu tố bắt buộc cần xem xét. Theo thời hạn tín dụng: Cơ bản có 3 mốc thời hạn tín dụng chính: Tín dụng ngắn hạn: dưới 12 tháng; Tín dụng trung hạn: từ 12 đến dưới 60 tháng; Tín dụng dài hạn: từ 60 tháng trở lên.
Theo mức độ bảo đảm: Tín dụng không có tài sản đảm bảo (vay tín chấp): Điều kiện vay đơn giản đi kèm lãi suất cao với thời hạn khoản vay thấp và sẽ bị hạn chế về giá trị khoản vay. Tín dụng có tài sản đảm bảo: Bên vay thế chấp một tỷ lệ tài sản đảm bảo nhất định có giá trị thanh khoản nếu bên đi vay không có khả năng trả nợ. Sản phẩm đa dạng, giá trị khoản vay cao, thời hạn vay linh động và lãi suất thấp hơn vay tín chấp. Vai trò tín dụng NHTM Nếu Ngân hàng được coi là hệ thống mao mạch giúp luân chuyển nguồn vốn cho nền kinh tế thì tín dụng chính là trái tim của ngành Ngân hàng khi giúp bơm nguồn vốn này đến với các chủ thể đang có nhu cầu sử dụng để phát triển.
+ Đối với cá nhân: Việc đi vay sẽ giúp cá nhân đó có khả năng hoàn thành sớm các dự định, kế hoạch đề ra mà không mất quá nhiều thời gian hay công sức. Việc vay nợ cũng là một động lực giúp người đi vay có ý thức lao động và tích lũy cho bản thân. + Đối với doanh nghiệp: Là đòn bẩy tài chính quan trọng cho việc mở rộng và phát triển của bất cứ doanh nghiệp nào.